Home » Posts filed under Địa danh
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa danh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa danh. Hiển thị tất cả bài đăng
Lang thang Sàigòn (Phần 1)
Ai cũng thế thôi, có thể ta đã từng đi rất nhiều nơi trên đất nước từ Nam - Trung - Bắc, từng thỏa chí với bao cảnh đẹp vùng biển hoang sơ, nơi cao nguyên lộng gió hoặc vùng núi non hiểm trở. Vậy nhưng chính nơi ta đang sống thường lại chỉ biết sơ qua hay mù mờ về những con đường, những địa danh mà chỉ cách ta tầm mươi cây số.
< Đường Nguyễn Tất Thành, quận 4. Mình đi chiều ngày 1/9 nên đường vắng do nghỉ lễ hết rồi.
'Bụt chùa nhà không linh'? Có thể ta xem nhẹ những gì kề cận bên mình, có thể ta vẫn đánh giá thấp thành phố ta ở và cho rằng 'tại đây có gì hay đâu, chỉ có bấy nhiêu, quen rồi'...
< Đường Hoàng Diệu, quận 4. Nếu rẽ trái ở ngã 4 phía trước sẽ vào chợ Xóm Chiếu.
Chính do vậy nên khi một bạn nào đó ở các tỉnh xa hỏi về một địa danh đẹp gần nơi ta đang sống thì rất có thể ta... ú ớ: biết gì mà trả lời đây? Đã đến chưa? Chưa đến. Đã lần nào nghe nói đến chốn đó? Quá nhiều, nhưng đến đấy thì... chưa dù chỉ cách nhà ta không đầy mươi kilomet... trong khi các chuyến phượt: đường đi ta phải tính tới con số trên 'ngàn' cây số!
< Vẫn đường Hoàng Diệu, phía trái là chùa Kim Liên với mái ngói cong vút.
Vậy nên lúc này mình bắt đầu viết đến những chốn quanh ta. Kẹt nhiều việc không đi xa được (dù lòng rất muốn) thì 'phượt gần' vậy! Quận 4, quận 7, quận 2, quận 9... có gì lý thú không?
< Cuối đường là Khu vui chơi Thiếu nhi Khánh Hội (Kizciti) kề bên nhà Thiếu Nhi quận 4.
Có lẽ, trong ý nghĩ của riêng mình thì những nơi ấy có khối cái hay hay đấy! Ăn thua là ta có muốn đi hay không, ta có cảm nhận được những thứ trông thật bình thường mà ta vẫn thấy nhưng vô tình bỏ qua.
Đất nước ta chốn nào cũng đẹp lắm, cuồn chân muốn đi...
< Mình trở ngược lại để rẽ qua Bến Vân Đồn. Ngày xưa, con đường ni be bé và đầy những nhà lụp xụp ven sông. Bây giờ thì bạn thấy rộng rãi và khang trang chưa?
Sàigòn (TP HCM) rộng lớn lắm, đây là một thành phố lớn nhất nước, đông dân nhất, kinh tế phát triển mạnh nhất... nhưng rất có thể chính ta lại mù mờ nhất về nó. Đã có lần mình lang thang ở Thủ Đức, lếch thếch ở những chốn thưa vắng tại quận 7, quận 8... nhưng đa phần đi giấc sập tối nên không đem theo máy ảnh vì không thể có hình đẹp. Phần khác cũng có thể do cứ nghĩ đây là 'chuyện nhỏ', có gì để quan trọng đâu nên... xù!
< Trở ngược lại lần nữa do 'nửa kia' muốn ngắm nghía công viên bờ sông: này thì cứ xem thoải mái...
Phía xa xa là khu căn Hộ Orient Apartment, quận 4 bây giờ khá nhiều nhà cao tầng.
< Phía trên là cầu Ông Lãnh mới, rộng. Mé phải vẫn là công viên chạy dọc theo bờ kênh Bến Nghé.
Chuyến 'hóng gió' trong bài kể lại này, mình xuất hành vào giấc sớm chiều để lang thang bên Q2 Thủ Thiêm ngay đầu tháng 9 (trước ngày Quốc khánh) cộng với một chiều sau đó vài ngày. Trực chỉ Thủ Thiêm, vậy nhưng, trước khi đến bán đảo ấy thì phải qua quận 4 cái đã.
< Lúc này đã là 16h, phải đi Thủ Thiêm thôi, thời gian không còn nhiều.
Bên khi đường là nhà thờ Vĩnh Hội với gác chuông cao vút, kiểu cách dân tộc hay hay. Nếu không có cây thập tự giá ở trên sẽ nghĩ lầm là ngôi chùa...
< Theo đường dẫn lên cầu Calmette, hướng về phía cửa hầm Thủ Thiêm.
Nhánh rẽ phía trước: nếu quẹo phải sẽ vào trung tâm quận 1, tức là ngay đầu đường Tôn Đức Thắng (công viên chỗ này khá đẹp, ngay Cầu Mống cũ), còn quẹo trái là vào hầm xuyên sông.
< Cửa hầm đây, do hôm nay 1.9, nghỉ lễ rồi nên khá vắng. Từ ngày 21/7, xe máy được lưu thông qua hầm Thủ Thiêm sớm hơn một giờ và thời gian cấm cũng muộn hơn một tiếng so với trước đây.
Cụ thể từ 5h đến 22h hàng ngày - Ngoài thời gian ni thì xin mời chạy... lối khác.
< Trông quen mắt rồi thì hầm không dài: chỉ đổ dốc, hết dốc rồi thì lên dốc... là hết hầm.
Là một quận nội thành trong 24 quận, huyện của TP Hồ Chí Minh: Quận 4 có hình dạng trông như một đảo tam giác với diện tích 4.185 km², được bao bọc bởi sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé và kinh Tẻ. Quận 4 nằm ở cửa ngõ Đông - Nam thành phố; Bắc giáp Quận 1, Nam giáp Quận 7 - 8, Đông giáp Quận 2, có đường sông và đường bộ vươn ra biển. Dân số 195.100 người; mật độ dân số 46.619 người/km².
< Và hết hầm rồi thì Mảnh đất Thủ Thiêm đã lù lù ra trước mắt, thật nhanh và tiện.
Về kinh tế, thuận lợi của quận 4 là có Cảng Sài Còn và Cảng sông Tôn Thất Thuyết. Tàu, thuyền trong nước và ngoài nước thường xuyên ra vào, neo đậu, bốc dỡ hàng hóa, đưa đón hành khách. Do vậy quận 4 sớm trở thành đầu nối giao thông đường biển, đường sông tạo ra hướng phát triển thương mại dịch vụ cảng, hàng hải, vận chuyển và giao nhận ngoại thương.
< Trạm thu phí hầm Thủ Thiêm: xe 4 bánh trở lên thì ghé vào và móc ví ra...
Còn xế 'ít bánh' hơn thì 'biến đi!'.
Trong lịch sử, quận 4 ra đời với địa danh Khánh Hội, Xóm Chiếu, Hộ 3 xưa cùng thời với lịch sử khẩn hoang Nam Bộ, Sài Gòn, Bến Nghé, Gia Định cách nay hơn 300 năm. Nơi đây ngày ấy là vùng sông, rạch, bán nông thôn, chốn vãng lai của khách thương hồ, bán chiếu (vậy nên có tên chợ Xóm Chiếu) kể cả các nhóm khách giang hồ tứ chiến. Thời Pháp thuộc năm 1860 đã hình thành thương Cảng Sài Gòn, cái nôi của giai cấp công nhân với nhiều xóm thợ, phu khuân vác, khu lao động nghèo đất chật, người đông.
< Vào đại lộ Mai Chí Thọ, cũng là đại lộ Đông Tây cũ. Đây là con đường 'chiến đấu' nhất thành phố vì nó rộng thênh thang, vậy nhưng có thời kỳ đường bị lún, trồi nhựa nặng gây mất an toàn giao thông ở khúc từ đường Đồng Văn Cống đến nút giao Cát Lái.
Sửa xong chưa thì các bác tài 4 bánh trở lên mới biết do làn 2 bánh vẫn ổn.
'Tại anh? tại ả? Chung quy là tại... 'xe quá tải'.
< Qua cầu Cá Trê Lớn. Có lẽ ngày xưa, con rạch này có rất nhiều cá trê.
Quận 4 cũng là cái nôi cách mạng của giai cấp công nhân: thương cảng Sài gòn, Faci, Ba son, Bastos ra đời sớm nhất. Nơi đây có bến Nhà Rồng: cách đây 94 năm, bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Thời Pháp thuộc và chống Pháp có những nhà cách mạng đã từng hoạt động trên mảnh đất cảng Khánh Hội, Tân Hội xưa như Lý Tự Trọng, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt, Lê Quang Sung. Vùng đất vẫn còn dấu tích sự ra đời của An Nam Cộng sản Đảng, của ông Châu Văn Liêm, Ban lâm thời cấp ủy Đảng (Xứ ủy Nam kỳ), là nơi tiếp nhận và phân phối tài liệu, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin đi khắp cả nước.
< Đến giao lộ Đồng Văn Cống (đi Giồng Ông Tố), mình rẽ trái ngược về hầm để ra công viên.
Nếu muốn đường ngắn hơn thì sau khi ra khỏi hầm: quẹo phải để vào công viên (xe 2 bánh) nhưng chạy như vậy sẽ vi phạm lỗi ngược chiều.
< Trạm thu phí hầm ở mé bên kia. Muốn ra công viên đầu hầm, phải chạy theo làn ngoài cùng bên phải vì làn trong sẽ chui tọt xuống 'đáy sông' đấy.
Thời kỳ chống Mỹ trên địa bàn quận đã ghi dấu bước chân của Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Thái Bình, Phan Kiệm, Đoàn Cao Hồng, Trang Tấn Khương, Đoàn Văn Bơ, Đặng Gia Lợi, Vũ Hồng, Lê Văn Thành, Lê Minh Nhựt, Nguyễn Văn Đua, Nguyễn Thành Tài, Lê Văn Nuôi... gắn liền với các đơn vị Liên quận 2 - 4, cánh Tây Nam, Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định cùng với các vùng căn cứ hẻm cách mạng, Kho cộng sản hình thành các lõm chính trị tại quận và các nơi khác như Long Cang, Phước Vân (Long An), Quới Sơn (Bến Tre), Bàn Long (Tiền Giang).
< Đường vào công viên ngày cận lễ vắng lặng. Vậy nhưng chỉ một ngày sau: 2.9 đặc keng người.
Cũng đã từng một thời: quận 4 là nơi các băng nhóm giang hồ hoạt động dữ dội nhất, biến nới đây thành “thánh địa” của xã hội đen Sài Gòn trước ngày giải phóng. Lừng tiếng nhất là trùm du đãng Đại Cathay với hàng chục 'trùm nhỏ' khác chia nhau vùng lãnh địa. Năm Cam ngày ấy ngụ tại đây chưa có một vai trò gì đáng kể trong giới giang hồ và các tổ chức tội phạm ở Sài Gòn, chỉ ăn theo người khác như vai trò gác sòng, cắm xường, phát hỏa cho các sòng.
< Ventilation Shaft, nhà điều hành hầm mé Thủ Thiêm nằm cạnh công viên.
Vị trí chỗ này ở đây >
< Công viên ở đầu hầm đây: rộng rãi và thoáng mát. Ngay dưới chân mình là hầm vượt sông Sàigòn đấy.
Theo hướng biến quận 4 từ một quận mang danh là "Vùng đất dữ" thành "Vùng đất lành": Ngày nay, sau một thời gian chuyển mình: từ một quận nghèo, quận 4 trở thành một quận khá và giàu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ một quận có cơ sở hạ tầng còn thấp trở thành một quận hoàn chỉnh đô thị hóa bằng chỉnh trang kiến thiết đô thị.
< 'Ôm' của mình đây, ngồi hóng gió giữa muôn ngàn hoa.
Nhiều con đường được tạo mới, mở rộng, chỉnh trang hiện đại, các công viên mọc lên tạo mảng xanh đô thị. Đồng thời, những cây cầu mới được xây dựng đồng bộ giúp tăng sự thông thương với các quận khác. Nói chung, quận 4 đã thay đổi hoàn toàn nếu so sánh lúc mình lọc cọc đạp đến trường 'mài đũng quần' cho đến thời điểm hiện tại. Chắc chắn rằng, đây là sự thành công lớn của Q4 và thành tựu ấy cũng chưa đến điểm dừng - một quận trung tâm sẽ là một điều không xa.
< Còn nhìn hướng bên kia sông Sàigòn là các cao ốc chọc trời.
Ngắm nghía một hồi, mình lại lấy xe và đi. Chủ đích hôm nay sẽ chạy theo lối ven sông Sàigòn: đường Cây Bàng, con đường heo hút, vắng lặng kéo dài nối vào đường Trần Não.
Còn tiếp
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4
Điền Gia Dũng - Du lịch, GO!
< Đường Nguyễn Tất Thành, quận 4. Mình đi chiều ngày 1/9 nên đường vắng do nghỉ lễ hết rồi.
'Bụt chùa nhà không linh'? Có thể ta xem nhẹ những gì kề cận bên mình, có thể ta vẫn đánh giá thấp thành phố ta ở và cho rằng 'tại đây có gì hay đâu, chỉ có bấy nhiêu, quen rồi'...
< Đường Hoàng Diệu, quận 4. Nếu rẽ trái ở ngã 4 phía trước sẽ vào chợ Xóm Chiếu.
Chính do vậy nên khi một bạn nào đó ở các tỉnh xa hỏi về một địa danh đẹp gần nơi ta đang sống thì rất có thể ta... ú ớ: biết gì mà trả lời đây? Đã đến chưa? Chưa đến. Đã lần nào nghe nói đến chốn đó? Quá nhiều, nhưng đến đấy thì... chưa dù chỉ cách nhà ta không đầy mươi kilomet... trong khi các chuyến phượt: đường đi ta phải tính tới con số trên 'ngàn' cây số!
< Vẫn đường Hoàng Diệu, phía trái là chùa Kim Liên với mái ngói cong vút.
Vậy nên lúc này mình bắt đầu viết đến những chốn quanh ta. Kẹt nhiều việc không đi xa được (dù lòng rất muốn) thì 'phượt gần' vậy! Quận 4, quận 7, quận 2, quận 9... có gì lý thú không?
< Cuối đường là Khu vui chơi Thiếu nhi Khánh Hội (Kizciti) kề bên nhà Thiếu Nhi quận 4.
Có lẽ, trong ý nghĩ của riêng mình thì những nơi ấy có khối cái hay hay đấy! Ăn thua là ta có muốn đi hay không, ta có cảm nhận được những thứ trông thật bình thường mà ta vẫn thấy nhưng vô tình bỏ qua.
Đất nước ta chốn nào cũng đẹp lắm, cuồn chân muốn đi...
< Mình trở ngược lại để rẽ qua Bến Vân Đồn. Ngày xưa, con đường ni be bé và đầy những nhà lụp xụp ven sông. Bây giờ thì bạn thấy rộng rãi và khang trang chưa?
Sàigòn (TP HCM) rộng lớn lắm, đây là một thành phố lớn nhất nước, đông dân nhất, kinh tế phát triển mạnh nhất... nhưng rất có thể chính ta lại mù mờ nhất về nó. Đã có lần mình lang thang ở Thủ Đức, lếch thếch ở những chốn thưa vắng tại quận 7, quận 8... nhưng đa phần đi giấc sập tối nên không đem theo máy ảnh vì không thể có hình đẹp. Phần khác cũng có thể do cứ nghĩ đây là 'chuyện nhỏ', có gì để quan trọng đâu nên... xù!
< Trở ngược lại lần nữa do 'nửa kia' muốn ngắm nghía công viên bờ sông: này thì cứ xem thoải mái...
Phía xa xa là khu căn Hộ Orient Apartment, quận 4 bây giờ khá nhiều nhà cao tầng.
< Phía trên là cầu Ông Lãnh mới, rộng. Mé phải vẫn là công viên chạy dọc theo bờ kênh Bến Nghé.
Chuyến 'hóng gió' trong bài kể lại này, mình xuất hành vào giấc sớm chiều để lang thang bên Q2 Thủ Thiêm ngay đầu tháng 9 (trước ngày Quốc khánh) cộng với một chiều sau đó vài ngày. Trực chỉ Thủ Thiêm, vậy nhưng, trước khi đến bán đảo ấy thì phải qua quận 4 cái đã.
< Lúc này đã là 16h, phải đi Thủ Thiêm thôi, thời gian không còn nhiều.
Bên khi đường là nhà thờ Vĩnh Hội với gác chuông cao vút, kiểu cách dân tộc hay hay. Nếu không có cây thập tự giá ở trên sẽ nghĩ lầm là ngôi chùa...
< Theo đường dẫn lên cầu Calmette, hướng về phía cửa hầm Thủ Thiêm.
Nhánh rẽ phía trước: nếu quẹo phải sẽ vào trung tâm quận 1, tức là ngay đầu đường Tôn Đức Thắng (công viên chỗ này khá đẹp, ngay Cầu Mống cũ), còn quẹo trái là vào hầm xuyên sông.
< Cửa hầm đây, do hôm nay 1.9, nghỉ lễ rồi nên khá vắng. Từ ngày 21/7, xe máy được lưu thông qua hầm Thủ Thiêm sớm hơn một giờ và thời gian cấm cũng muộn hơn một tiếng so với trước đây.
Cụ thể từ 5h đến 22h hàng ngày - Ngoài thời gian ni thì xin mời chạy... lối khác.
< Trông quen mắt rồi thì hầm không dài: chỉ đổ dốc, hết dốc rồi thì lên dốc... là hết hầm.
Là một quận nội thành trong 24 quận, huyện của TP Hồ Chí Minh: Quận 4 có hình dạng trông như một đảo tam giác với diện tích 4.185 km², được bao bọc bởi sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé và kinh Tẻ. Quận 4 nằm ở cửa ngõ Đông - Nam thành phố; Bắc giáp Quận 1, Nam giáp Quận 7 - 8, Đông giáp Quận 2, có đường sông và đường bộ vươn ra biển. Dân số 195.100 người; mật độ dân số 46.619 người/km².
< Và hết hầm rồi thì Mảnh đất Thủ Thiêm đã lù lù ra trước mắt, thật nhanh và tiện.
Về kinh tế, thuận lợi của quận 4 là có Cảng Sài Còn và Cảng sông Tôn Thất Thuyết. Tàu, thuyền trong nước và ngoài nước thường xuyên ra vào, neo đậu, bốc dỡ hàng hóa, đưa đón hành khách. Do vậy quận 4 sớm trở thành đầu nối giao thông đường biển, đường sông tạo ra hướng phát triển thương mại dịch vụ cảng, hàng hải, vận chuyển và giao nhận ngoại thương.
< Trạm thu phí hầm Thủ Thiêm: xe 4 bánh trở lên thì ghé vào và móc ví ra...
Còn xế 'ít bánh' hơn thì 'biến đi!'.
Trong lịch sử, quận 4 ra đời với địa danh Khánh Hội, Xóm Chiếu, Hộ 3 xưa cùng thời với lịch sử khẩn hoang Nam Bộ, Sài Gòn, Bến Nghé, Gia Định cách nay hơn 300 năm. Nơi đây ngày ấy là vùng sông, rạch, bán nông thôn, chốn vãng lai của khách thương hồ, bán chiếu (vậy nên có tên chợ Xóm Chiếu) kể cả các nhóm khách giang hồ tứ chiến. Thời Pháp thuộc năm 1860 đã hình thành thương Cảng Sài Gòn, cái nôi của giai cấp công nhân với nhiều xóm thợ, phu khuân vác, khu lao động nghèo đất chật, người đông.
< Vào đại lộ Mai Chí Thọ, cũng là đại lộ Đông Tây cũ. Đây là con đường 'chiến đấu' nhất thành phố vì nó rộng thênh thang, vậy nhưng có thời kỳ đường bị lún, trồi nhựa nặng gây mất an toàn giao thông ở khúc từ đường Đồng Văn Cống đến nút giao Cát Lái.
Sửa xong chưa thì các bác tài 4 bánh trở lên mới biết do làn 2 bánh vẫn ổn.
'Tại anh? tại ả? Chung quy là tại... 'xe quá tải'.
< Qua cầu Cá Trê Lớn. Có lẽ ngày xưa, con rạch này có rất nhiều cá trê.
Quận 4 cũng là cái nôi cách mạng của giai cấp công nhân: thương cảng Sài gòn, Faci, Ba son, Bastos ra đời sớm nhất. Nơi đây có bến Nhà Rồng: cách đây 94 năm, bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Thời Pháp thuộc và chống Pháp có những nhà cách mạng đã từng hoạt động trên mảnh đất cảng Khánh Hội, Tân Hội xưa như Lý Tự Trọng, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt, Lê Quang Sung. Vùng đất vẫn còn dấu tích sự ra đời của An Nam Cộng sản Đảng, của ông Châu Văn Liêm, Ban lâm thời cấp ủy Đảng (Xứ ủy Nam kỳ), là nơi tiếp nhận và phân phối tài liệu, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin đi khắp cả nước.
< Đến giao lộ Đồng Văn Cống (đi Giồng Ông Tố), mình rẽ trái ngược về hầm để ra công viên.
Nếu muốn đường ngắn hơn thì sau khi ra khỏi hầm: quẹo phải để vào công viên (xe 2 bánh) nhưng chạy như vậy sẽ vi phạm lỗi ngược chiều.
< Trạm thu phí hầm ở mé bên kia. Muốn ra công viên đầu hầm, phải chạy theo làn ngoài cùng bên phải vì làn trong sẽ chui tọt xuống 'đáy sông' đấy.
Thời kỳ chống Mỹ trên địa bàn quận đã ghi dấu bước chân của Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Thái Bình, Phan Kiệm, Đoàn Cao Hồng, Trang Tấn Khương, Đoàn Văn Bơ, Đặng Gia Lợi, Vũ Hồng, Lê Văn Thành, Lê Minh Nhựt, Nguyễn Văn Đua, Nguyễn Thành Tài, Lê Văn Nuôi... gắn liền với các đơn vị Liên quận 2 - 4, cánh Tây Nam, Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định cùng với các vùng căn cứ hẻm cách mạng, Kho cộng sản hình thành các lõm chính trị tại quận và các nơi khác như Long Cang, Phước Vân (Long An), Quới Sơn (Bến Tre), Bàn Long (Tiền Giang).
< Đường vào công viên ngày cận lễ vắng lặng. Vậy nhưng chỉ một ngày sau: 2.9 đặc keng người.
Cũng đã từng một thời: quận 4 là nơi các băng nhóm giang hồ hoạt động dữ dội nhất, biến nới đây thành “thánh địa” của xã hội đen Sài Gòn trước ngày giải phóng. Lừng tiếng nhất là trùm du đãng Đại Cathay với hàng chục 'trùm nhỏ' khác chia nhau vùng lãnh địa. Năm Cam ngày ấy ngụ tại đây chưa có một vai trò gì đáng kể trong giới giang hồ và các tổ chức tội phạm ở Sài Gòn, chỉ ăn theo người khác như vai trò gác sòng, cắm xường, phát hỏa cho các sòng.
< Ventilation Shaft, nhà điều hành hầm mé Thủ Thiêm nằm cạnh công viên.
Vị trí chỗ này ở đây >
< Công viên ở đầu hầm đây: rộng rãi và thoáng mát. Ngay dưới chân mình là hầm vượt sông Sàigòn đấy.
Theo hướng biến quận 4 từ một quận mang danh là "Vùng đất dữ" thành "Vùng đất lành": Ngày nay, sau một thời gian chuyển mình: từ một quận nghèo, quận 4 trở thành một quận khá và giàu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ một quận có cơ sở hạ tầng còn thấp trở thành một quận hoàn chỉnh đô thị hóa bằng chỉnh trang kiến thiết đô thị.
< 'Ôm' của mình đây, ngồi hóng gió giữa muôn ngàn hoa.
Nhiều con đường được tạo mới, mở rộng, chỉnh trang hiện đại, các công viên mọc lên tạo mảng xanh đô thị. Đồng thời, những cây cầu mới được xây dựng đồng bộ giúp tăng sự thông thương với các quận khác. Nói chung, quận 4 đã thay đổi hoàn toàn nếu so sánh lúc mình lọc cọc đạp đến trường 'mài đũng quần' cho đến thời điểm hiện tại. Chắc chắn rằng, đây là sự thành công lớn của Q4 và thành tựu ấy cũng chưa đến điểm dừng - một quận trung tâm sẽ là một điều không xa.
< Còn nhìn hướng bên kia sông Sàigòn là các cao ốc chọc trời.
Ngắm nghía một hồi, mình lại lấy xe và đi. Chủ đích hôm nay sẽ chạy theo lối ven sông Sàigòn: đường Cây Bàng, con đường heo hút, vắng lặng kéo dài nối vào đường Trần Não.
Còn tiếp
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4
Điền Gia Dũng - Du lịch, GO!
Thác Đồng Phai (Tuyên Quang)
Bắt nguồn từ ngọn núi Yên Ngựa, thuộc dãy núi Tam Đảo, cách thị trấn Sơn Dương 17 km về phía đông nam, thác Đồng Phai, xã Hợp Hòa (còn gọi là thác Đền) là hợp lưu của 10 dòng suối từ trên đỉnh núi Yên Ngựa đổ về. Thác nước nằm gọn trong một khu rừng nguyên sinh có nhiều cổ thụ, hai bên thác là vách đá cao phủ rong rêu và rễ cây buông chằng chịt.
Lên thác Đồng Phai vào những ngày hè nóng nực này, du khách sẽ có dịp được thưởng ngoạn vẻ đẹp hoang sơ, không khí trong lành, mát dịu của dòng thác. Thác nước từ trên cao đổ xuống, tạo thành những bồn tắm thiên nhiên tuyệt đẹp. Lội ngược theo dòng suối, du khách sẽ bắt gặp những gềnh đá kỳ vĩ.
Khi mỏi, du khách có thể ngả lưng trên những phiến đá rộng, ngắm nhìn trời xanh qua kẽ lá, hoặc tắm mình trong dòng suối mát lạnh. Đứng trên đỉnh núi Yên Ngựa có thể nhìn thấy toàn cảnh thác Đồng Phai. Ngày cũng như đêm thác ầm ào đổ nước tạo nên màn bọt nước trắng xoá. Tất cả tạo nên vẻ đẹp vừa nguyên sơ vừa huyền hoặc như một lời mời gọi bước chân du khách.
Vào dịp hè, thác Đồng Phai là điểm dừng chân cắm trại lý tưởng cho hàng trăm học sinh, sinh viên mỗi ngày. Vào những ngày nghỉ lễ số lượng người đến đây tăng lên rất đông, có ngày lên đến hàng nghìn người.
Anh Đặng Xuân Sửu, Trưởng phòng Văn hoá - Thông tin và Thể thao huyện Sơn Dương cho biết: “Năm 2010, huyện Sơn Dương sẽ đưa thác Đồng Phai vào dự án quy hoạch phát triển du lịch sinh thái. Đây sẽ là điểm nhấn trong kế hoạch phát triển ngành du lịch lâu dài của huyện”.
Thác Đồng Phai là một tiềm năng du lịch lớn. Tương lai nơi đây sẽ trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn của huyện Sơn Dương
Xem thêm >
Theo Thủy Châu (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!
Lên thác Đồng Phai vào những ngày hè nóng nực này, du khách sẽ có dịp được thưởng ngoạn vẻ đẹp hoang sơ, không khí trong lành, mát dịu của dòng thác. Thác nước từ trên cao đổ xuống, tạo thành những bồn tắm thiên nhiên tuyệt đẹp. Lội ngược theo dòng suối, du khách sẽ bắt gặp những gềnh đá kỳ vĩ.
Khi mỏi, du khách có thể ngả lưng trên những phiến đá rộng, ngắm nhìn trời xanh qua kẽ lá, hoặc tắm mình trong dòng suối mát lạnh. Đứng trên đỉnh núi Yên Ngựa có thể nhìn thấy toàn cảnh thác Đồng Phai. Ngày cũng như đêm thác ầm ào đổ nước tạo nên màn bọt nước trắng xoá. Tất cả tạo nên vẻ đẹp vừa nguyên sơ vừa huyền hoặc như một lời mời gọi bước chân du khách.
Vào dịp hè, thác Đồng Phai là điểm dừng chân cắm trại lý tưởng cho hàng trăm học sinh, sinh viên mỗi ngày. Vào những ngày nghỉ lễ số lượng người đến đây tăng lên rất đông, có ngày lên đến hàng nghìn người.
Anh Đặng Xuân Sửu, Trưởng phòng Văn hoá - Thông tin và Thể thao huyện Sơn Dương cho biết: “Năm 2010, huyện Sơn Dương sẽ đưa thác Đồng Phai vào dự án quy hoạch phát triển du lịch sinh thái. Đây sẽ là điểm nhấn trong kế hoạch phát triển ngành du lịch lâu dài của huyện”.
Thác Đồng Phai là một tiềm năng du lịch lớn. Tương lai nơi đây sẽ trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn của huyện Sơn Dương
Xem thêm >
Theo Thủy Châu (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!
Nét đẹp đền Thượng
(TQĐT) - Đền Thượng, thôn Tân Tiến, thị trấn Sơn Dương (Sơn Dương) là nơi thờ phụng và ngưỡng vọng Mẫu Thượng Ngàn. Đền được dựng trên đồi Đăng Châu, theo hướng Tây Nam, phía trước là dòng sông phó Đáy. Xung quanh có nhiều cây cổ thụ, bốn mùa rợp bóng mát tạo cho đền một vẻ đẹp thanh tao, cô tịch. Đền có kiến trúc chữ “nhất” gồm 3 gian ứng với 3 toà: Tiền tế, thượng điện và hậu cung.
Toà tiền tế là nơi đặt nhang án thờ. Phía trên toà tiền tế là bức hoành phi bằng gỗ có đề 4 chữ Hán “Thượng đẳng tối linh”, tức thần thượng đẳng rất linh thiêng. Phía dưới bức hoành phi có bộ cửa võng bằng gỗ, được sơn son thếp vàng.
Cửa võng được chạm khắc rất tinh sảo với chủ đề tứ quý, “lưỡng long chầu nguyệt”. Đây là sự kết hợp giữa kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng và chạm bong kênh rất nhuần nhuyễn, thể hiện đôi bàn tay tài hoa, óc thẩm mỹ và trí sáng tạo độc đáo, tinh tế của người nghệ nhân dân gian.

< Đền Thượng thôn Tân Tiến, thị trấn Sơn Dương.
Hai bên cột cái là đôi câu đối chữ Hán bằng gỗ: “Linh địa nguy nga thiên cổ miếu/Anh linh thánh mẫu vạn niên tồn” (Mảnh đất linh thiêng có ngôi miếu cổ nguy nga/Thánh Mẫu anh linh ngàn năm sáng soi mãi mãi). Chính giữa gian tiền tế là nơi hành lễ và đặt bàn thờ Thánh. Phía trong cùng toà tiền tế là nơi đặt tượng thờ Ngọc Hoàng thượng đế, tượng quan Nam Tào và tượng quan Bắc Đẩu. Gian bên phải của toà Tiền tế là nơi đặt bàn thờ bà chúa Sơn Trang và gian bên trái đặt quả chuông lớn. Quả chuông được đúc theo phong cách triều Nguyễn.
Phía trên toà hậu cung có treo bức cuốn thư. Đây là tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, là sự kết hợp của kỹ thuật chạm khắc dân gian và truyền thống, các mảng khối trong cuốn thư rất mềm mại và uyển chuyển. Bức cuốn thư được chạm khắc nguyên khối, phía ngoài là các linh vật (long, lân, quy, phượng), phía trong là hình bức cuốn thư đang mở có đề 4 chữ Hán “Vạn cổ anh linh” - Linh thiêng muôn đời.
Toà thượng điện của đền Thượng là nơi linh thiêng nhất - nơi đặt tượng thờ Tam toà Thánh Mẫu. Bộ tượng Tam toà Thánh Mẫu được đặt trong khám thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng. Khám thờ chính giữa đặt linh tượng Mẫu Thượng Thiên - là vị Mẫu cao nhất trong Tam toà Thánh Mẫu, cũng là nơi cao nhất trong di tích. Khám thờ bên phải là Mẫu Thoải và khám thờ bên trái là Mẫu Thượng Ngàn. Ngoài ngôi đền chính ra, đền Thượng còn có các đơn nguyên kiến trúc khác như am thờ Sơn thần (thần núi) và am thờ các cô. Quan Sơn thần là người trông coi vùng núi quanh khu vực đền, ngài được coi là thổ công của đền. Lầu thờ các cô là ba vị cô nương: cô Chín, cô Bơ, cô Bảy. Ba cô là thị tỳ của Thánh Mẫu.
< Lễ rước mẫu đền Thượng.
Trong năm, đền Thượng có các ngày Lễ: Lễ khai bút (2-1 âm lịch) là ngày mở cửa đền cho các sĩ tử trong làng đến trình làng, cầu mong cho con đường học hành rộng mở, thi cử đỗ đạt. Lễ Thượng nguyên (10-1 âm lịch) là ngày lễ giải hạn cho nhân dân, đồng thời cũng là ngày làm lễ xuống đồng, bắt đầu một mùa màng mới. Lễ cầu mưa (từ 8-4 đến 10-4 âm lịch) là ngày lễ cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi. Những lễ hội Đền Thượng đã trở thành nét đẹp văn hóa tâm linh của người dân thị trấn Sơn Dương, thu hút sự tham gia của khách thập phương.
Đền Thượng là công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn với nhiều di vật, hiện vật. Hiện ngôi đền còn nhiều văn bản, thư tịch Hán Nôm cổ như hoành phi, câu đối giá trị giúp nghiên cứu về nét văn hoá độc đáo của địa phương.
Xem thêm >
Theo Chúc Ngọc Huyền (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!
Toà tiền tế là nơi đặt nhang án thờ. Phía trên toà tiền tế là bức hoành phi bằng gỗ có đề 4 chữ Hán “Thượng đẳng tối linh”, tức thần thượng đẳng rất linh thiêng. Phía dưới bức hoành phi có bộ cửa võng bằng gỗ, được sơn son thếp vàng.
Cửa võng được chạm khắc rất tinh sảo với chủ đề tứ quý, “lưỡng long chầu nguyệt”. Đây là sự kết hợp giữa kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng và chạm bong kênh rất nhuần nhuyễn, thể hiện đôi bàn tay tài hoa, óc thẩm mỹ và trí sáng tạo độc đáo, tinh tế của người nghệ nhân dân gian.

< Đền Thượng thôn Tân Tiến, thị trấn Sơn Dương.
Hai bên cột cái là đôi câu đối chữ Hán bằng gỗ: “Linh địa nguy nga thiên cổ miếu/Anh linh thánh mẫu vạn niên tồn” (Mảnh đất linh thiêng có ngôi miếu cổ nguy nga/Thánh Mẫu anh linh ngàn năm sáng soi mãi mãi). Chính giữa gian tiền tế là nơi hành lễ và đặt bàn thờ Thánh. Phía trong cùng toà tiền tế là nơi đặt tượng thờ Ngọc Hoàng thượng đế, tượng quan Nam Tào và tượng quan Bắc Đẩu. Gian bên phải của toà Tiền tế là nơi đặt bàn thờ bà chúa Sơn Trang và gian bên trái đặt quả chuông lớn. Quả chuông được đúc theo phong cách triều Nguyễn.
Phía trên toà hậu cung có treo bức cuốn thư. Đây là tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, là sự kết hợp của kỹ thuật chạm khắc dân gian và truyền thống, các mảng khối trong cuốn thư rất mềm mại và uyển chuyển. Bức cuốn thư được chạm khắc nguyên khối, phía ngoài là các linh vật (long, lân, quy, phượng), phía trong là hình bức cuốn thư đang mở có đề 4 chữ Hán “Vạn cổ anh linh” - Linh thiêng muôn đời.
Toà thượng điện của đền Thượng là nơi linh thiêng nhất - nơi đặt tượng thờ Tam toà Thánh Mẫu. Bộ tượng Tam toà Thánh Mẫu được đặt trong khám thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng. Khám thờ chính giữa đặt linh tượng Mẫu Thượng Thiên - là vị Mẫu cao nhất trong Tam toà Thánh Mẫu, cũng là nơi cao nhất trong di tích. Khám thờ bên phải là Mẫu Thoải và khám thờ bên trái là Mẫu Thượng Ngàn. Ngoài ngôi đền chính ra, đền Thượng còn có các đơn nguyên kiến trúc khác như am thờ Sơn thần (thần núi) và am thờ các cô. Quan Sơn thần là người trông coi vùng núi quanh khu vực đền, ngài được coi là thổ công của đền. Lầu thờ các cô là ba vị cô nương: cô Chín, cô Bơ, cô Bảy. Ba cô là thị tỳ của Thánh Mẫu.
< Lễ rước mẫu đền Thượng.
Trong năm, đền Thượng có các ngày Lễ: Lễ khai bút (2-1 âm lịch) là ngày mở cửa đền cho các sĩ tử trong làng đến trình làng, cầu mong cho con đường học hành rộng mở, thi cử đỗ đạt. Lễ Thượng nguyên (10-1 âm lịch) là ngày lễ giải hạn cho nhân dân, đồng thời cũng là ngày làm lễ xuống đồng, bắt đầu một mùa màng mới. Lễ cầu mưa (từ 8-4 đến 10-4 âm lịch) là ngày lễ cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi. Những lễ hội Đền Thượng đã trở thành nét đẹp văn hóa tâm linh của người dân thị trấn Sơn Dương, thu hút sự tham gia của khách thập phương.
Đền Thượng là công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn với nhiều di vật, hiện vật. Hiện ngôi đền còn nhiều văn bản, thư tịch Hán Nôm cổ như hoành phi, câu đối giá trị giúp nghiên cứu về nét văn hoá độc đáo của địa phương.
Xem thêm >
Theo Chúc Ngọc Huyền (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!
Hoang vắng ở biển Chăm
(SGTT.VN) - Trên con lộ đi từ Phan Rang ra hướng vịnh Vĩnh Hi, qua những ruộng muối Đầm Vua hữu tình, ngó bên trái, sẽ bắt gặp một làng chài xộc xệch, khiêm tốn. Hỏi người Chăm, kẻ bảo, “xưa ông bà ở đây”, kẻ khác lại chỉ lên trên một ngọn đồi nhoài ra phía biển: trên đó, có “đền cúng ông bà”.
Chúng tôi gửi xe ở quán nước cuối làng biển Khánh Nhơn (Nhơn Hải, Ninh Thuận) rồi theo lối mòn đi qua những rẫy ớt, tỏi, hành... là thổ sản có tiếng của vùng, những ngôi nhà hoang, giếng xây bằng gạch táplô cũ kỹ của người bản địa để lần lối lên đồi. Dưới chân là cát mịn, trên đầu là bóng thuỳ dương loà xoà. Đôi chỗ, có những giao thông hào là dấu tích của khu quân sự đã được dời đi.
Lên xuống đồi Chăm
Chinh phục con đường qua ngọn đồi chỉ dài chừng 2km đủ để vã mồ hôi dưới trưa gắt gỏng của xứ nắng. Lê Hưng Tiến, người đồng hành, một giảng viên âm nhạc của trường CĐSP Ninh Thuận nói, là dân địa phương, nhưng đây là lần đầu nghe đến và thật thú vị khi bị lôi kéo vào chuyến đi kỳ lạ này.
Băng qua khu đồi thuỳ dương, mở ra trước mắt chúng tôi là một ghềnh đá có kiến tạo kỳ lạ, cổ quái. Dường như trong cuộc biển lấn miệt mài ngàn năm, sự bào mòn không đều của sóng đã làm cho những thảm đá trên ghềnh có bề mặt sần sùi, nhám nhúa, đôi chỗ trơ ra những cạnh sắc như thách thức trùng khơi ầm ào. Những vỏ ốc, sò, san hô bị sóng dạt lên hãy còn vương vãi. Và mép nước, vẫn còn những bãi đá cuội, những cồn nhỏ trơ trọi trước sóng nước.
Bước lên phía đỉnh đồi, chúng tôi bắt gặp một ngôi đền thờ toạ lạc. Đền được xây từ 2003 theo lối kiến trúc Hồi giáo, không người canh giữ, nhưng bên trong đền có nhiều vật dụng là chén, dĩa, mâm cúng, áo lễ của người Chăm được xếp gọn gàng để phục vụ cúng tế. Đặc biệt, chung quanh ngôi đền, dưới những gốc cây là các khối đá lớn chạm những văn bản tiếng Chăm cổ. Về sau, khi hỏi một nhà nghiên cứu ngôn ngữ Chăm, thì chữ Chăm cổ ngày nay không mấy người còn đọc được. Những khối đá được xếp dọc trong lùm cây, dưới những gốc cây và quấn xiêm áo như dáng hoá thạch của những ẩn sĩ toạ thiền, mặt hướng ra phía biển. Giữa chốn hoang vu, những phiến đá được quấn xiêm y đỏ, trắng trầm mặc trước những lư nhang tàn lạnh gợi cảm giác rờn rợn.
Dã ngoại ở vùng biển hoang sơ
Một đồng nghiệp người Chăm cho chúng tôi hay, hàng năm, vào dịp lễ tết Ramưwan (một “tiếp biến” của tháng chay Ramadan trong đạo Hồi, nhưng đã gạt bỏ bớt tinh thần khổ hạnh và chay tịnh), người Chăm theo đạo Bàni (Hồi giáo được bản địa hoá) vẫn đến đây cúng viếng, hành lễ tưởng nhớ tổ tiên.
Bỉnh Nghĩa, Mỹ Tường cũng là nơi vẫn còn giữ lễ cầu đảo sau tết Ramưwan. Nghi lễ cầu đảo, còn gọi là Yôn Yang, cầu xin thần Gió, thần Mây, thần Biển, thần Mưa... cho mưa thuận gió hoà, trời yên biển lặng để công việc nông, ngư thuận lợi, đời sống sung túc.
Đứng ở góc độ văn hoá học, nghi lễ cầu đảo của người Chăm ở những vùng cửa biển tại Ninh Thuận có giá trị đặc biệt, cho thấy dấu ấn của đời sống sinh hoạt biển dã vẫn còn lưu giữ trong tâm thức Chăm mặc dù trên thực tế, qua những biến cố lịch sử dân tộc, lớp hậu duệ đã không còn sinh sống bằng nghề biển như cha ông họ nữa.
Sóng biển hàng ngàn năm đã ăn lẹm vào ghềnh đá của ngọn đồi, tạo ra một vùng rất sâu, có màu xanh thẫm. Đây là nơi kỳ thú cho những chuyến dã ngoại, câu cá với những ai thích khung cảnh hoang sơ và bí ẩn; cũng là nơi lý tưởng cho những chuyến du khảo văn hoá với những ai theo đuổi cuộc tìm kiếm dấu tích biển trong văn hoá Chăm.
Nhưng với chúng tôi, những kẻ “cưỡi ngựa xem hoa” để săn tìm phong cảnh và có bề nuông chiều tâm hồn ăn uống, thì cũng được dự phần: chỉ cần xuống khỏi ngọn đồi, cất vào camera những góc nhìn hoài cổ, thì những quán biển với tôm cá tươi sống vừa từ ghe lên, đặc biệt là món dông cát nướng muối ớt ăn với lá dong... có sức cám dỗ đủ quên mất đường về.
- Làng biển Khánh Nhơn cách trung tâm TP Phan Rang về phía Đông, chừng 15km (trên đường đi vịnh Vĩnh Hi)
- Đặc sản: Ớt, tỏi, hành, táo, dông cát, hải sản tươi sống.
- Một số món ngon địa phương: bánh căn, bánh xèo tôm mực...
Xem thêm >
Theo Nguyễn Vinh (báo Sàigòn Tiếp Thị)
Du lịch GO!
Chúng tôi gửi xe ở quán nước cuối làng biển Khánh Nhơn (Nhơn Hải, Ninh Thuận) rồi theo lối mòn đi qua những rẫy ớt, tỏi, hành... là thổ sản có tiếng của vùng, những ngôi nhà hoang, giếng xây bằng gạch táplô cũ kỹ của người bản địa để lần lối lên đồi. Dưới chân là cát mịn, trên đầu là bóng thuỳ dương loà xoà. Đôi chỗ, có những giao thông hào là dấu tích của khu quân sự đã được dời đi.
Lên xuống đồi Chăm
Chinh phục con đường qua ngọn đồi chỉ dài chừng 2km đủ để vã mồ hôi dưới trưa gắt gỏng của xứ nắng. Lê Hưng Tiến, người đồng hành, một giảng viên âm nhạc của trường CĐSP Ninh Thuận nói, là dân địa phương, nhưng đây là lần đầu nghe đến và thật thú vị khi bị lôi kéo vào chuyến đi kỳ lạ này.
Băng qua khu đồi thuỳ dương, mở ra trước mắt chúng tôi là một ghềnh đá có kiến tạo kỳ lạ, cổ quái. Dường như trong cuộc biển lấn miệt mài ngàn năm, sự bào mòn không đều của sóng đã làm cho những thảm đá trên ghềnh có bề mặt sần sùi, nhám nhúa, đôi chỗ trơ ra những cạnh sắc như thách thức trùng khơi ầm ào. Những vỏ ốc, sò, san hô bị sóng dạt lên hãy còn vương vãi. Và mép nước, vẫn còn những bãi đá cuội, những cồn nhỏ trơ trọi trước sóng nước.
Bước lên phía đỉnh đồi, chúng tôi bắt gặp một ngôi đền thờ toạ lạc. Đền được xây từ 2003 theo lối kiến trúc Hồi giáo, không người canh giữ, nhưng bên trong đền có nhiều vật dụng là chén, dĩa, mâm cúng, áo lễ của người Chăm được xếp gọn gàng để phục vụ cúng tế. Đặc biệt, chung quanh ngôi đền, dưới những gốc cây là các khối đá lớn chạm những văn bản tiếng Chăm cổ. Về sau, khi hỏi một nhà nghiên cứu ngôn ngữ Chăm, thì chữ Chăm cổ ngày nay không mấy người còn đọc được. Những khối đá được xếp dọc trong lùm cây, dưới những gốc cây và quấn xiêm áo như dáng hoá thạch của những ẩn sĩ toạ thiền, mặt hướng ra phía biển. Giữa chốn hoang vu, những phiến đá được quấn xiêm y đỏ, trắng trầm mặc trước những lư nhang tàn lạnh gợi cảm giác rờn rợn.
Dã ngoại ở vùng biển hoang sơ
Một đồng nghiệp người Chăm cho chúng tôi hay, hàng năm, vào dịp lễ tết Ramưwan (một “tiếp biến” của tháng chay Ramadan trong đạo Hồi, nhưng đã gạt bỏ bớt tinh thần khổ hạnh và chay tịnh), người Chăm theo đạo Bàni (Hồi giáo được bản địa hoá) vẫn đến đây cúng viếng, hành lễ tưởng nhớ tổ tiên.
Bỉnh Nghĩa, Mỹ Tường cũng là nơi vẫn còn giữ lễ cầu đảo sau tết Ramưwan. Nghi lễ cầu đảo, còn gọi là Yôn Yang, cầu xin thần Gió, thần Mây, thần Biển, thần Mưa... cho mưa thuận gió hoà, trời yên biển lặng để công việc nông, ngư thuận lợi, đời sống sung túc.
Đứng ở góc độ văn hoá học, nghi lễ cầu đảo của người Chăm ở những vùng cửa biển tại Ninh Thuận có giá trị đặc biệt, cho thấy dấu ấn của đời sống sinh hoạt biển dã vẫn còn lưu giữ trong tâm thức Chăm mặc dù trên thực tế, qua những biến cố lịch sử dân tộc, lớp hậu duệ đã không còn sinh sống bằng nghề biển như cha ông họ nữa.
Sóng biển hàng ngàn năm đã ăn lẹm vào ghềnh đá của ngọn đồi, tạo ra một vùng rất sâu, có màu xanh thẫm. Đây là nơi kỳ thú cho những chuyến dã ngoại, câu cá với những ai thích khung cảnh hoang sơ và bí ẩn; cũng là nơi lý tưởng cho những chuyến du khảo văn hoá với những ai theo đuổi cuộc tìm kiếm dấu tích biển trong văn hoá Chăm.
Nhưng với chúng tôi, những kẻ “cưỡi ngựa xem hoa” để săn tìm phong cảnh và có bề nuông chiều tâm hồn ăn uống, thì cũng được dự phần: chỉ cần xuống khỏi ngọn đồi, cất vào camera những góc nhìn hoài cổ, thì những quán biển với tôm cá tươi sống vừa từ ghe lên, đặc biệt là món dông cát nướng muối ớt ăn với lá dong... có sức cám dỗ đủ quên mất đường về.
- Làng biển Khánh Nhơn cách trung tâm TP Phan Rang về phía Đông, chừng 15km (trên đường đi vịnh Vĩnh Hi)
- Đặc sản: Ớt, tỏi, hành, táo, dông cát, hải sản tươi sống.
- Một số món ngon địa phương: bánh căn, bánh xèo tôm mực...
Xem thêm >
Theo Nguyễn Vinh (báo Sàigòn Tiếp Thị)
Du lịch GO!
Thác Bàu Cạn hồi sinh?
Thác Bàu Cạn thuộc xã Gào (TP.Pleiku, Gia Lai). Ngày trước, thác có dòng chảy quanh năm điều hòa vì được rừng giữ nước, bụi nước từ dòng thác đổ bay như những làn sương mù bao phủ cả khu vực rộng lớn.
Đường vào thác bằng phẳng, dễ đi và tuyệt đẹp với những đồi chè xanh mướt, những bãi cỏ mượt mà ven các con dốc thoai thoải. Dọc hai bên đường đi, ngoài những hàng chè trải dài còn có những hàng cây muồng tỏa bóng mát rượi. Với điều kiện vốn có, nơi đây xứng đáng trở thành một khu du lịch khám phá hay nghỉ dưỡng rất tốt.
< Thác Bàu cạn mùa khô năm 2011 (tháng 1).
Thời điểm đẹp nhất để chiêm ngưỡng trọn vẹn vẻ đẹp của thác là vào mùa mưa. Khi ấy, những dòng nước lớn trên thượng nguồn đổ về, gặp ghềnh đá cuồn cuồn buông từ trên cao xuống, tạo nên 'hòn núi nước' khổng lồ và hùng vĩ.
Còn vào mùa nắng, dòng chảy của thác bị thu hẹp đến mức du khách có thể nhìn rõ những gành đá của thác.
< Thác Bàu Cạn mùa nước đổ.
Tháng 4 năm 2011, đã có lúc thác Bàu Cạn đã khô cạn gần như chết hẳn trong những ngày nắng hè do những ngọn núi cạnh thác bị khai phá trồng lúa, đầu thác bị chặn dòng làm thủy điện nhỏ và tưới cà phê khiến vẻ đẹp hoang sơ của chốn du lịch sinh thái này hầu như biến mất.
Vậy nhưng trong chuyến khảo sát ngày 18/8/2013: thác được phục sinh và hùng vĩ trông như ngày nào (xem video).
Có lẽ, nếu được đầu tư đúng mức, bảo vệ rừng đầu nguồn để giữ gìn nguồn nước, quy hoạch các tour du lịch sinh thái vào đây… thì thác Bàu Cạn sẽ còn mãi với vẻ đẹp hoang sơ. Kỹ nghệ du lịch không khói bao giờ cũng bền vững hơn hẳn cách khai phá thiếu tầm nhìn. Gia Lai có nhiều thác đẹp: xin hãy trân trọng những gì thiên nhiên đã phải mất hàng ngàn năm kiến tạo.
Tôi yêu những thác nước tại Gia Lai!
Du lịch, GO!
Đường vào thác bằng phẳng, dễ đi và tuyệt đẹp với những đồi chè xanh mướt, những bãi cỏ mượt mà ven các con dốc thoai thoải. Dọc hai bên đường đi, ngoài những hàng chè trải dài còn có những hàng cây muồng tỏa bóng mát rượi. Với điều kiện vốn có, nơi đây xứng đáng trở thành một khu du lịch khám phá hay nghỉ dưỡng rất tốt.
< Thác Bàu cạn mùa khô năm 2011 (tháng 1).
Thời điểm đẹp nhất để chiêm ngưỡng trọn vẹn vẻ đẹp của thác là vào mùa mưa. Khi ấy, những dòng nước lớn trên thượng nguồn đổ về, gặp ghềnh đá cuồn cuồn buông từ trên cao xuống, tạo nên 'hòn núi nước' khổng lồ và hùng vĩ.
Còn vào mùa nắng, dòng chảy của thác bị thu hẹp đến mức du khách có thể nhìn rõ những gành đá của thác.
< Thác Bàu Cạn mùa nước đổ.
Tháng 4 năm 2011, đã có lúc thác Bàu Cạn đã khô cạn gần như chết hẳn trong những ngày nắng hè do những ngọn núi cạnh thác bị khai phá trồng lúa, đầu thác bị chặn dòng làm thủy điện nhỏ và tưới cà phê khiến vẻ đẹp hoang sơ của chốn du lịch sinh thái này hầu như biến mất.
Vậy nhưng trong chuyến khảo sát ngày 18/8/2013: thác được phục sinh và hùng vĩ trông như ngày nào (xem video).
Có lẽ, nếu được đầu tư đúng mức, bảo vệ rừng đầu nguồn để giữ gìn nguồn nước, quy hoạch các tour du lịch sinh thái vào đây… thì thác Bàu Cạn sẽ còn mãi với vẻ đẹp hoang sơ. Kỹ nghệ du lịch không khói bao giờ cũng bền vững hơn hẳn cách khai phá thiếu tầm nhìn. Gia Lai có nhiều thác đẹp: xin hãy trân trọng những gì thiên nhiên đã phải mất hàng ngàn năm kiến tạo.
Tôi yêu những thác nước tại Gia Lai!
Du lịch, GO!
Khám phá 7 đèo huyền thoại
Từ thành phố Cao Bằng, tiếp tục đi theo Quốc Lộ 3 chừng hơn 20km khi qua huyện Trà Lĩnh sẽ bắt gặp một con đèo với bảy tầng xoáy cua tay áo vô cùng hiểm trở, ấy chính là đèo Mã Phục.
< Chuẩn bị vượt con đèo đầu tiên là đèo Giàng.
Tuyến Quốc lộ 3 bắt đầu từ Hà Nội rồi chạy dài qua các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và kết thúc tại cửa khẩu Tà Nùng, thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Suốt chặng đường dài hơn 300km qua đèo Giàng, đèo Gió, đèo Ngân Sơn, đèo Cao Bắc, đèo Tài Hồ Sìn và đèo Mã Phục.
< Từ TP. Bắc Kạn đến Cao Bằng có độ dài 121 km trong đó phải vượt qua 5 con đèo 3 của Bắc Kạn và 2 của Cao Bằng. Riêng hướng đi của tôi sẽ vượt thêm 2 đèo nữa...
Ảnh bên là đỉnh đèo Giàng với khung cảnh đồi núi vùng cao mờ ảo.
< Sau một hồi cua và đổ đèo chúng tôi cũng đến đèo thứ 2 là đèo Gió. Đây là con đèo cao nhất trong 5 đèo đã kể đầu tiên.
< Ngay từ chân đèo đã là những đoạn cua chữ S liên tục, đoạn đèo này thường là nỗi lo ngại của những tay lái xe tải, xe công-te-nơ, rất nhiều xe bị chết máy, kẹt số phải dừng lại lưng đèo, chưa kể khá nhiều vụ lật xe cũng diễn ra tại đây. Còn riêng tôi thì ngồi sau tay lái lượn những đoạn cua như vậy thật là thích thú và cảm giác rất phiêu...
Nếu du khách đi từ Hà Nội theo tuyến Quốc lộ này lên thác Bản Giốc, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng sẽ phải chia tay tuyến Quốc lộ này ở một địa điểm thuộc chân phía bên kia của con đèo huyền thoại mang tên Mã Phục, con đèo cuối cùng của tuyến Quốc lộ 3. Cái tên đèo đã gắn với một câu chuyện huyền sử của người dân tộc Tày ở vùng đất địa đầu Đông Bắc này.
Tích xưa kể lại rằng, giữa thế kỷ 11 có chàng trai người Tày tên là Nùng Chí Cao, con của một thủ lĩnh địa phương vốn rất thông minh và tài giỏi.
< Đèo Tài Hồ Sìn trong ngày nắng đẹp.
Khi giặc phương Bắc kéo xuống xâm lược bờ cõi, Nùng Chí Cao đã lãnh đạo nhân dân đứng lên dẹp giặc cứu nước, trả lại sự bình yên cho nhân dân vùng biên viễn. Khi bờ cõi đã yên, trong một lần cưỡi ngựa đi tuần tra biên giới trở về, Nùng Chí Cao băng qua một thung lũng rộng lớn. Khi đến giữa thung lũng thì thấy phía những đỉnh núi xa có mấy nàng tiên đang vẫy gọi. Chàng đã không dừng lại mà tiếp tục đi...
< Chân đèo Mã Phục.
Về đến địa phận thuộc xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng ngày nay, gặp con đèo cao quanh co, dốc đứng án ngữ trước mặt, chiến mã của Nùng Chí Cao không thể đi tiếp được nữa liền khụyu xuống. Cái tên đèo Mã Phục (ngựa quỳ) cũng có từ ngày đó. Thung lũng nơi có nàng tiên vẫy gọi Nùng Chí Cao được nhân dân đặt tên là Lũng Riệc (nghĩa là thung lũng vẫy gọi), còn vùng dưới chân đèo Mã Phục được gọi là Lũng Rặp (thung lũng đón tiếp người anh hùng trở về).
< Cả một vùng rừng núi bao la nhìn từ đỉnh đèo Mã Phục.
Ngày nay, tuyến Quốc lộ 3 đi Cao Bằng đã trở thành một trong những cung đường huyền thoại của những bước chân khám phá. Tuyến đường 7 đèo huyền thoại ấy, những bước chân du khách sẽ được khám phá những gì tươi đẹp nhất của cả một vùng Đông Bắc.
< Đèo Khau Liêu.
Qua đèo Mã Phục, khi vừa xuống đến chân đèo rẽ trái sẽ đến với làng Tổng Cọt - nơi có cây đa già nổi tiếng hơn trăm tuổi và những phiên chợ trâu ngày chủ nhật, ghé thăm làng cổ Nà Ngắn, đến với cửa khẩu Trà Lĩnh.
Nếu đến Quảng Uyên rẽ trái ngược lên đèo Khau Liêu để đến Trùng Khánh, xuyên qua những rừng cây dẻ rì rào, tới thăm động Ngườm Ngao, thác Bản Giốc kỳ vĩ trên dòng Quây Sơn xanh biếc. Tiếp tục hành trình tới Hạ Lang, điểm cuối của tỉnh Cao Bằng.
< Cửa khẩu quốc gia Tà Lùng, Cao Bằng.
Còn nếu qua Quảng Uyên rẽ phải là đường đến cửa khẩu quốc tế Tà Lùng, một cửa khẩu kinh tế sầm uất vào bậc nhất của vùng Đông Bắc. Còn như như rẽ trái ở ngã ba lưng đèo Khau Liêu, nơi có khu chợ nhỏ nổi tiếng với đặc sản thịt bò có chất lượng ngon hiếm có của cả nước, bước chân lãng du sẽ đến hồ Thang Hen, một hồ nước trong xanh lưng núi quanh năm soi bóng mây trời và những cá ngon đặc sản của đồng bào người Nùng, Tày ở các làng bản ven hồ.
Xem nguồn > - Nguồn 2
Theo An Ninh Thủ Đô + ảnh Phuot.vn cùng nhiều nguồn khác.
Du lịch, GO!
< Chuẩn bị vượt con đèo đầu tiên là đèo Giàng.
Tuyến Quốc lộ 3 bắt đầu từ Hà Nội rồi chạy dài qua các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và kết thúc tại cửa khẩu Tà Nùng, thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Suốt chặng đường dài hơn 300km qua đèo Giàng, đèo Gió, đèo Ngân Sơn, đèo Cao Bắc, đèo Tài Hồ Sìn và đèo Mã Phục.
< Từ TP. Bắc Kạn đến Cao Bằng có độ dài 121 km trong đó phải vượt qua 5 con đèo 3 của Bắc Kạn và 2 của Cao Bằng. Riêng hướng đi của tôi sẽ vượt thêm 2 đèo nữa...
Ảnh bên là đỉnh đèo Giàng với khung cảnh đồi núi vùng cao mờ ảo.
< Sau một hồi cua và đổ đèo chúng tôi cũng đến đèo thứ 2 là đèo Gió. Đây là con đèo cao nhất trong 5 đèo đã kể đầu tiên.
< Ngay từ chân đèo đã là những đoạn cua chữ S liên tục, đoạn đèo này thường là nỗi lo ngại của những tay lái xe tải, xe công-te-nơ, rất nhiều xe bị chết máy, kẹt số phải dừng lại lưng đèo, chưa kể khá nhiều vụ lật xe cũng diễn ra tại đây. Còn riêng tôi thì ngồi sau tay lái lượn những đoạn cua như vậy thật là thích thú và cảm giác rất phiêu...
Nếu du khách đi từ Hà Nội theo tuyến Quốc lộ này lên thác Bản Giốc, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng sẽ phải chia tay tuyến Quốc lộ này ở một địa điểm thuộc chân phía bên kia của con đèo huyền thoại mang tên Mã Phục, con đèo cuối cùng của tuyến Quốc lộ 3. Cái tên đèo đã gắn với một câu chuyện huyền sử của người dân tộc Tày ở vùng đất địa đầu Đông Bắc này. Tích xưa kể lại rằng, giữa thế kỷ 11 có chàng trai người Tày tên là Nùng Chí Cao, con của một thủ lĩnh địa phương vốn rất thông minh và tài giỏi.
< Đèo Tài Hồ Sìn trong ngày nắng đẹp.
Khi giặc phương Bắc kéo xuống xâm lược bờ cõi, Nùng Chí Cao đã lãnh đạo nhân dân đứng lên dẹp giặc cứu nước, trả lại sự bình yên cho nhân dân vùng biên viễn. Khi bờ cõi đã yên, trong một lần cưỡi ngựa đi tuần tra biên giới trở về, Nùng Chí Cao băng qua một thung lũng rộng lớn. Khi đến giữa thung lũng thì thấy phía những đỉnh núi xa có mấy nàng tiên đang vẫy gọi. Chàng đã không dừng lại mà tiếp tục đi...
< Chân đèo Mã Phục.
Về đến địa phận thuộc xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng ngày nay, gặp con đèo cao quanh co, dốc đứng án ngữ trước mặt, chiến mã của Nùng Chí Cao không thể đi tiếp được nữa liền khụyu xuống. Cái tên đèo Mã Phục (ngựa quỳ) cũng có từ ngày đó. Thung lũng nơi có nàng tiên vẫy gọi Nùng Chí Cao được nhân dân đặt tên là Lũng Riệc (nghĩa là thung lũng vẫy gọi), còn vùng dưới chân đèo Mã Phục được gọi là Lũng Rặp (thung lũng đón tiếp người anh hùng trở về).
< Cả một vùng rừng núi bao la nhìn từ đỉnh đèo Mã Phục.
Ngày nay, tuyến Quốc lộ 3 đi Cao Bằng đã trở thành một trong những cung đường huyền thoại của những bước chân khám phá. Tuyến đường 7 đèo huyền thoại ấy, những bước chân du khách sẽ được khám phá những gì tươi đẹp nhất của cả một vùng Đông Bắc.
< Đèo Khau Liêu.
Qua đèo Mã Phục, khi vừa xuống đến chân đèo rẽ trái sẽ đến với làng Tổng Cọt - nơi có cây đa già nổi tiếng hơn trăm tuổi và những phiên chợ trâu ngày chủ nhật, ghé thăm làng cổ Nà Ngắn, đến với cửa khẩu Trà Lĩnh.
Nếu đến Quảng Uyên rẽ trái ngược lên đèo Khau Liêu để đến Trùng Khánh, xuyên qua những rừng cây dẻ rì rào, tới thăm động Ngườm Ngao, thác Bản Giốc kỳ vĩ trên dòng Quây Sơn xanh biếc. Tiếp tục hành trình tới Hạ Lang, điểm cuối của tỉnh Cao Bằng.
< Cửa khẩu quốc gia Tà Lùng, Cao Bằng.
Còn nếu qua Quảng Uyên rẽ phải là đường đến cửa khẩu quốc tế Tà Lùng, một cửa khẩu kinh tế sầm uất vào bậc nhất của vùng Đông Bắc. Còn như như rẽ trái ở ngã ba lưng đèo Khau Liêu, nơi có khu chợ nhỏ nổi tiếng với đặc sản thịt bò có chất lượng ngon hiếm có của cả nước, bước chân lãng du sẽ đến hồ Thang Hen, một hồ nước trong xanh lưng núi quanh năm soi bóng mây trời và những cá ngon đặc sản của đồng bào người Nùng, Tày ở các làng bản ven hồ.
Xem nguồn > - Nguồn 2
Theo An Ninh Thủ Đô + ảnh Phuot.vn cùng nhiều nguồn khác.
Du lịch, GO!
Kẻng Mỏ: nơi sông Đà chảy vào đất Việt
(TTO) - Đi Kẻng Mỏ thực sự là một cuộc hành xác bằng xe máy, xe đi chậm như đi bộ và nhiều lúc phải đi bộ thật để đẩy xe trên quãng đường chỉ khoảng… 260km tính từ thị xã Lai Châu! Nhưng tại sao phải khổ sở để đi đến đó? Bởi một lẽ đơn giản thôi, đó là nơi con sông Đà chảy vào đất Việt!
< Đường đi Kẻng Mỏ.
Để đi đến Kẻng Mỏ, là một chuyến du ngoạn mạo hiểm và kỳ thú, và tất nhiên là phải… đủ khỏe. Từ hướng thị xã Lai Châu xuống hoặc từ hướng Điện Biên lên thị trấn Mường Lay đều khoảng 100km.
< Hợp lưu sông Đà và sông Hồng.
Là một chi lưu chính của hệ thống sông Hồng, sông Đà là con sông hùng vĩ dữ dội vào bậc nhất Việt Nam. Đoạn chảy trên đất Việt Nam của sông Đà cũng dài hơn sông Hồng tới gần 20km (gần 550km). Bắt đầu vào biên giới nước ta từ Kẻng Mỏ, Mường Tè, Lai Châu, len lỏi qua cả một miền đá dựng toàn núi là núi của vùng trời Tây Bắc, cho đến tận ngã ba Trung Hà.
Hai con sông Đà - Hồng, một con sông màu đỏ, một con sông màu xanh mới hợp lưu lại thành một ở ngã ba Hồng Đà, đi thêm một đoạn nữa tới ngã ba Bạch Hạc lại hợp lưu với sông Lô, từ đó mới trở thành con sông lớn nhất của miền Bắc Việt Nam.
Ngã ba huyền thoại Mường Lay là nơi dòng Đà giang gặp dòng Nậm Na, nơi nổi tiếng với những di tích dinh thự của vua Thái Đèo Văn Long nay chỉ còn rêu phong nền móng. Đây vốn là thị xã bình yên “cuối trời Tây Bắc”, là tỉnh lỵ của tỉnh Lai Châu cũ trước khi chia tách với Điện Biên thành hai tỉnh.
Từ Mường Lay, đi dọc hữu ngạn sông Đà theo tỉnh lộ 127, đi thêm 40km con đường dưới vách núi dựng đứng, một bên là vực sông sâu thẳm thì đến vách đá Pú Huổi Chỏ “mây nâng bánh xe” để xem lại bài thơ của Ngọc hoa động chủ (danh xưng của người anh hùng áo vải Lê Lợi).
Khi đó ông đã giành được nước, thân chinh đem quân đi dẹp nội loạn Đèo Cát Hãn trở về, đề bài thơ Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn lên vách đá.
.jpg)
< Một đoạn ghềnh thác trên thượng nguồn sông Đà, trên đường đi vào Kẻng Mỏ.
Huyền thoại kể rằng vua Lê Thái Tổ đã rút kiếm ra viết thẳng bài thơ bằng mũi kiếm vào vách đá, chuyện không biết có thật không, nhưng xem nét chữ đã trải qua 680 năm vẫn không mờ, mộc mạc nhưng đầy hùng khí:
"Thảo mộc kinh phong hạc/ Sơn xuyên nhập bản đồ/ Đề thi khắc nham thạch/ Trấn ngã Việt Tây ngung (tạm dịch: Cây cỏ (chỉ quân giặc Man) nghe (uy thế của đại quân) chim kêu gió động cũng phải run sợ/ Sông núi từ nay nhập vào bản đồ/ Đề thơ này khắc vào vách núi đá cứng/ Để ghi dấu trấn giữ phía Tây nước Việt ta”.
.jpg)
< Vách đá Pú Huổi Chỏ, nơi tảng đá viết bài thơ của vua Lê Thái Tổ, nay đã được cưa về để tại đền bia Lê Lợi, gần thủy điện Lai Châu.
Đi 100km nữa thì tới thị trấn thủ phủ của huyện Mường Tè. Lại men theo sông, đi ngược 70km nữa thì tới ngã ba Nậm Lằn. Đoạn đường này là đoạn đường tuyệt đẹp về cảnh quan, nhưng cực khó vì đường xấu, con sông Đà len lỏi như một sợi chỉ nước đỏ ngầu giữa hai bên bờ núi cao chót vót chạm mây.

< Cây cầu treo đầu tiên bắc qua sông Đà phần lãnh thổ Việt Nam.
Từ ngã ba Nậm Lằn, nếu đi thẳng là tới xã Ka Lăng, xã Thu Lũm, rồi tới cửa khẩu biên giới Việt Trung có cái tên thú vị là U Ma Tu Khoòng. Dân nhiếp ảnh cứ hay nhắc những cái tên quen thuộc, ruộng bậc thang Sa Pa, Mù Căng Chải, Xín Mần… nhưng với tôi, nếu so với ruộng bậc thang trên đường từ Ka lăng đi Thu Lũm, thì cánh ruộng bậc thang kể trên kia chỉ là… đàn em mà thôi!
Rẽ trái, đi 20km trên đoạn “đường mà chẳng giống đường lắm”, như anh bạn cùng đoàn nhận xét, là tới trạm biên phòng Kẻng Mỏ thuộc Đồn Ka Lăng. Đoạn sông Đà này thu nhỏ lại, và nước thì lại biến thành sợi chỉ xanh ngắt ở đáy vực thăm thẳm mầu ngọc bích.
.jpg)
< Lòng sông xanh ngắt và đầy bãi đá nổi, ảnh chụp từ trên chiếc cầu treo đầu tiên bắc qua lòng sông trên đất Việt Nam, cách biên giới khoảng 5km.
Tới đây, khách lãng du trải qua con đường dài mệt mỏi sẽ được các chiến sĩ biên phòng ở trạm Kẻng Mỏ nhiệt tình đón tiếp. Ở đây không có sóng điện thoại nhưng ruồi vàng thì có và nó có thể tìm bất cứ chỗ hở nào trên người bạn để đốt.
Trạm nhìn ra mặt sông, bên cạnh chiếc cầu treo qua sông đầu tiên trên đất Việt Nam. Để đi đến tận mốc biên giới 17, là nơi “điểm chạm” của sông Đà vào nước Việt, phải đi qua cầu treo rồi xuyên rừng thêm 5-6km nữa. Nơi ngã ba sông cắm mốc 17, có một con suối lớn phụ nhánh tuôn ra, nên cột mốc biên giới được chia làm ba: 17 (1), 17 (2), 17 (3).

< Tại Mốc 17 (1), phía biên giới Việt Nam tại ngã ba sông biên giới.
Đại úy Lý Xuân Cà, đồn phó đồn Ka Lăng, cho biết ý nghĩa của cái tên Kẻng Mỏ ấy: theo một số giải thích đó là tên con thác Kẻng Mỏ (bằng tiếng Quan Hỏa), tạm dịch là “thác rơi chảo”.
Do con sông Đà “hung dữ nhất Đông Dương” này chảy trên lưu vực có độc dốc cao, xiết, quá nhiều ghềnh thác, người đi bè xuôi thác ngày xưa đặt những cái tên “khủng” cho từng con thác để miêu tả sự hung hiểm của nó: Kẻng Cớn nghĩa là đá lăn, Kẻng Mỏ là bè lật dựng đứng lên, cái chảo nấu ăn (là vật rất quý của người đi bè) đã buộc vào bè rồi mà còn rơi mất…
< Hình thù kỳ dị giống như những vết chân người vừa bước đi trên đá .
Giờ đây, do phía bên kia Trung Quốc cũng có thủy điện tích nước, nên nước chỗ đầu nguồn đoạn tiếp giáp biên giới nước khá cạn. Khi thủy điện bên đó chưa xả nước, ô tô tải có thể đi qua lòng sông để chở vật liệu xây mốc. Lòng sông Đà chỗ ngã ba sông biên giới này rất hẹp, chỉ khoảng chừng hơn 100m, nước rất xiết và lạnh, lòng sông cũng như bờ sông toàn đá cuội, có nhiều viên hình thù kỳ dị như bàn chân người, đủ màu sắc rất đẹp…
Đặt chân được tới đây, một trong những điểm mốc cuối cùng của miền Tây Bắc tổ quốc, có lẽ mỗi người sẽ đều sinh ra những cảm xúc khác nhau, nhưng niềm xúc động bồi hồi vì đã tới tận nơi ngọn nguồn của một con sông kỳ quan, dữ dội nhất nước sẽ còn đọng lại là mãi mãi.
Xem thêm >
Theo Vũ Lâm (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
< Đường đi Kẻng Mỏ.
Để đi đến Kẻng Mỏ, là một chuyến du ngoạn mạo hiểm và kỳ thú, và tất nhiên là phải… đủ khỏe. Từ hướng thị xã Lai Châu xuống hoặc từ hướng Điện Biên lên thị trấn Mường Lay đều khoảng 100km.
< Hợp lưu sông Đà và sông Hồng.
Là một chi lưu chính của hệ thống sông Hồng, sông Đà là con sông hùng vĩ dữ dội vào bậc nhất Việt Nam. Đoạn chảy trên đất Việt Nam của sông Đà cũng dài hơn sông Hồng tới gần 20km (gần 550km). Bắt đầu vào biên giới nước ta từ Kẻng Mỏ, Mường Tè, Lai Châu, len lỏi qua cả một miền đá dựng toàn núi là núi của vùng trời Tây Bắc, cho đến tận ngã ba Trung Hà.
Hai con sông Đà - Hồng, một con sông màu đỏ, một con sông màu xanh mới hợp lưu lại thành một ở ngã ba Hồng Đà, đi thêm một đoạn nữa tới ngã ba Bạch Hạc lại hợp lưu với sông Lô, từ đó mới trở thành con sông lớn nhất của miền Bắc Việt Nam.
Ngã ba huyền thoại Mường Lay là nơi dòng Đà giang gặp dòng Nậm Na, nơi nổi tiếng với những di tích dinh thự của vua Thái Đèo Văn Long nay chỉ còn rêu phong nền móng. Đây vốn là thị xã bình yên “cuối trời Tây Bắc”, là tỉnh lỵ của tỉnh Lai Châu cũ trước khi chia tách với Điện Biên thành hai tỉnh.Từ Mường Lay, đi dọc hữu ngạn sông Đà theo tỉnh lộ 127, đi thêm 40km con đường dưới vách núi dựng đứng, một bên là vực sông sâu thẳm thì đến vách đá Pú Huổi Chỏ “mây nâng bánh xe” để xem lại bài thơ của Ngọc hoa động chủ (danh xưng của người anh hùng áo vải Lê Lợi).
Khi đó ông đã giành được nước, thân chinh đem quân đi dẹp nội loạn Đèo Cát Hãn trở về, đề bài thơ Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn lên vách đá.
.jpg)
< Một đoạn ghềnh thác trên thượng nguồn sông Đà, trên đường đi vào Kẻng Mỏ.
Huyền thoại kể rằng vua Lê Thái Tổ đã rút kiếm ra viết thẳng bài thơ bằng mũi kiếm vào vách đá, chuyện không biết có thật không, nhưng xem nét chữ đã trải qua 680 năm vẫn không mờ, mộc mạc nhưng đầy hùng khí:
"Thảo mộc kinh phong hạc/ Sơn xuyên nhập bản đồ/ Đề thi khắc nham thạch/ Trấn ngã Việt Tây ngung (tạm dịch: Cây cỏ (chỉ quân giặc Man) nghe (uy thế của đại quân) chim kêu gió động cũng phải run sợ/ Sông núi từ nay nhập vào bản đồ/ Đề thơ này khắc vào vách núi đá cứng/ Để ghi dấu trấn giữ phía Tây nước Việt ta”.
.jpg)
< Vách đá Pú Huổi Chỏ, nơi tảng đá viết bài thơ của vua Lê Thái Tổ, nay đã được cưa về để tại đền bia Lê Lợi, gần thủy điện Lai Châu.
Đi 100km nữa thì tới thị trấn thủ phủ của huyện Mường Tè. Lại men theo sông, đi ngược 70km nữa thì tới ngã ba Nậm Lằn. Đoạn đường này là đoạn đường tuyệt đẹp về cảnh quan, nhưng cực khó vì đường xấu, con sông Đà len lỏi như một sợi chỉ nước đỏ ngầu giữa hai bên bờ núi cao chót vót chạm mây.

< Cây cầu treo đầu tiên bắc qua sông Đà phần lãnh thổ Việt Nam.
Từ ngã ba Nậm Lằn, nếu đi thẳng là tới xã Ka Lăng, xã Thu Lũm, rồi tới cửa khẩu biên giới Việt Trung có cái tên thú vị là U Ma Tu Khoòng. Dân nhiếp ảnh cứ hay nhắc những cái tên quen thuộc, ruộng bậc thang Sa Pa, Mù Căng Chải, Xín Mần… nhưng với tôi, nếu so với ruộng bậc thang trên đường từ Ka lăng đi Thu Lũm, thì cánh ruộng bậc thang kể trên kia chỉ là… đàn em mà thôi!
Rẽ trái, đi 20km trên đoạn “đường mà chẳng giống đường lắm”, như anh bạn cùng đoàn nhận xét, là tới trạm biên phòng Kẻng Mỏ thuộc Đồn Ka Lăng. Đoạn sông Đà này thu nhỏ lại, và nước thì lại biến thành sợi chỉ xanh ngắt ở đáy vực thăm thẳm mầu ngọc bích.
.jpg)
< Lòng sông xanh ngắt và đầy bãi đá nổi, ảnh chụp từ trên chiếc cầu treo đầu tiên bắc qua lòng sông trên đất Việt Nam, cách biên giới khoảng 5km.
Tới đây, khách lãng du trải qua con đường dài mệt mỏi sẽ được các chiến sĩ biên phòng ở trạm Kẻng Mỏ nhiệt tình đón tiếp. Ở đây không có sóng điện thoại nhưng ruồi vàng thì có và nó có thể tìm bất cứ chỗ hở nào trên người bạn để đốt.
Trạm nhìn ra mặt sông, bên cạnh chiếc cầu treo qua sông đầu tiên trên đất Việt Nam. Để đi đến tận mốc biên giới 17, là nơi “điểm chạm” của sông Đà vào nước Việt, phải đi qua cầu treo rồi xuyên rừng thêm 5-6km nữa. Nơi ngã ba sông cắm mốc 17, có một con suối lớn phụ nhánh tuôn ra, nên cột mốc biên giới được chia làm ba: 17 (1), 17 (2), 17 (3).

< Tại Mốc 17 (1), phía biên giới Việt Nam tại ngã ba sông biên giới.
Đại úy Lý Xuân Cà, đồn phó đồn Ka Lăng, cho biết ý nghĩa của cái tên Kẻng Mỏ ấy: theo một số giải thích đó là tên con thác Kẻng Mỏ (bằng tiếng Quan Hỏa), tạm dịch là “thác rơi chảo”.
Do con sông Đà “hung dữ nhất Đông Dương” này chảy trên lưu vực có độc dốc cao, xiết, quá nhiều ghềnh thác, người đi bè xuôi thác ngày xưa đặt những cái tên “khủng” cho từng con thác để miêu tả sự hung hiểm của nó: Kẻng Cớn nghĩa là đá lăn, Kẻng Mỏ là bè lật dựng đứng lên, cái chảo nấu ăn (là vật rất quý của người đi bè) đã buộc vào bè rồi mà còn rơi mất…
< Hình thù kỳ dị giống như những vết chân người vừa bước đi trên đá .
Giờ đây, do phía bên kia Trung Quốc cũng có thủy điện tích nước, nên nước chỗ đầu nguồn đoạn tiếp giáp biên giới nước khá cạn. Khi thủy điện bên đó chưa xả nước, ô tô tải có thể đi qua lòng sông để chở vật liệu xây mốc. Lòng sông Đà chỗ ngã ba sông biên giới này rất hẹp, chỉ khoảng chừng hơn 100m, nước rất xiết và lạnh, lòng sông cũng như bờ sông toàn đá cuội, có nhiều viên hình thù kỳ dị như bàn chân người, đủ màu sắc rất đẹp…
Đặt chân được tới đây, một trong những điểm mốc cuối cùng của miền Tây Bắc tổ quốc, có lẽ mỗi người sẽ đều sinh ra những cảm xúc khác nhau, nhưng niềm xúc động bồi hồi vì đã tới tận nơi ngọn nguồn của một con sông kỳ quan, dữ dội nhất nước sẽ còn đọng lại là mãi mãi.
Xem thêm >
Theo Vũ Lâm (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Popular Posts
-
H à Giang có rất nhiều chợ: chợ Phố Cáo, chợ Phó Bảng, chợ Sủng Là, chợ Lũng Phìn, chợ Ma Lé, chợ Đồng Văn, chợ Mèo Vạc, chợ Sà Phìn… Đa phầ...
-
C hùa Vạn Đức tọa lạc số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh). Chùa do HT.Thích Trí Tịnh, đời thứ 41 dòng t...
-
(Metinfo) - A i cũng biết khổ qua nguyên trái hầm thịt nạc bằm hoặc cá thác lác quết nước muối, khổ qua xắt lát xào thịt bò , khổ qua xắt lá...
-
(QN online) - C ùng với za’ră (thịt thọc ống), aví cuốt (bánh sừng trâu), ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc n...
-
G iữa nhịp sống hối hả và ồn ào của TP. Hồ Chí Minh, nếu bạn bước chân vào nơi rợp bóng cây, lộng gió và nghe tiếng chim hót sẽ là một niềm ...
-
(iHay) - T hị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên nằm giữa 2 thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và Tuy Hòa (Phú Yên). Có lẽ do nằm trong “vùng trũng” g...
-
(CTTĐTTTH) - A n Định Cung không chỉ nổi tiếng là một công trình đẹp của cung đình Huế mà nó còn là nơi chứng kiến nhiều nỗi thăng trầm của ...
-
(Daidoanket) - N gược dòng Long Đại, con thuyền đưa chúng tôi đi ngang qua các thôn, bản với những tên gọi dân gian như Ổ Gà, Lùi, Cập, Chuố...
-
A n Giang là tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam với một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên. Đây là tỉnh có dân số đông n...
-
K hu tưởng niệm các vua Hùng là một công trình thuộc khu Cổ Đại của dự án Công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc. Khu tưởng niệm tọa lạc trên ...


































.jpg)












