Home » Posts filed under Ẩm thực địa phương
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Ốc đá non ngàn
(QN online) - Cùng với za’ră (thịt thọc ống), aví cuốt (bánh sừng trâu), ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc người vùng cao giữa đại ngàn Trường Sơn.
< Đặc sản ốc đá vùng cao.
Để có món ốc đặc sản đãi khách, đồng bào thường cùng nhau lặn lội vào trong rừng sâu, đi dọc các con suối để mò ốc. Gọi là ốc đá, bởi chúng thường bám dưới những hốc đá nằm sâu trong vũng nước, khe suối. Nhiều nhất là sau các đợt lũ. Không chỉ bám dưới hốc đá, ốc nhiều nhất ở dưới lớp rêu nước. Chỉ cần hất nhẹ đám rêu xanh, tha hồ lượm ốc vào giỏ, mang về làm thức ăn hoặc bán.
Có nhiều cách chế biến ốc như luộc chín, tách thịt ốc ra khỏi vỏ nấu cháo hay xào măng hoặc xào ốc trực tiếp với sả, ớt, gừng,… cùng vài gia vị khác, nhưng trước hết phải được tẩy nhờn bằng muối ăn, chặt đuôi ốc. Ở miền núi, ốc đá thường dùng làm mồi uống với rượu cần, tà vạt, tr’đin ngon không gì bằng!
Ngày trước, ốc nhiều, chỉ cần ngụp lặn khoảng hơn 2 tiếng đồng hồ, một người có thể mang về vài ký ốc. Còn giờ đây, ốc đá cạn dần bởi môi trường bị tàn phá. Con suối Pho ngày xưa trẻ thơ tôi theo những chiều mò ốc chỉ còn là một bãi cát khô cằn hoặc là một vũng nước đầy rác thải. Phía thượng nguồn một vài con sông lớn như sông R’lang, A Vương,…, ốc cũng không còn nhiều. Nhiều khúc sông, những bãi đá đứng lô nhô trên một bãi bồi trơ đáy. Bởi vậy, lên vùng cao được tiếp đãi bằng những món ốc đá xào sả mới thấy giá trị tình cảm và tấm lòng của người dân miền ngược dành cho những vị khách của mình.
Anh Tạ Vĩnh Yên, cán bộ tỉnh đoàn nói mỗi món ăn có hương vị đặc trưng khác nhau là cả tấm lòng của đồng bào dành cho khách quý của buôn làng, nhưng thích nhất vẫn là món ốc đá. “Vị cay của sả thấm trong thịt ốc chắc, béo, ăn rất tuyệt” - anh Yên nói.
Xem thêm >
Theo Lăng A Cúi (báo Quảng Nam)
< Ốc đá vừa bắt từ suối.
- Để có vài kg ốc này không dễ. Người ta phải huy động cả nhà ra suối quần thảo từ chiều cho đến tối mịt bởi ban ngày ốc chui trốn trong các hốc đá sâu hoắm và chỉ xuất hiện kiếm ăn khi mặt trời bắt đầu xuống núi. Những con ốc này mình dài từ 3 - 7cm, đen trũi chậm chạp bám vào những tảng đá ven bờ suối ăn rong rêu. Ốc đá bắt được mang về chà rửa sạch, chặt phần đuôi để sau khi nấu chín dùng miệng hút cho dễ.
Khử dầu với hành, tỏi, sả băm nhỏ trước khi cho ốc vào nồi, sau đó khuấy đều và tiếp tục cho ớt giã nhuyễn, đường, mắm, muối vừa ăn, để lửa liu riu cho thịt ốc thấm. Thịt ốc đá ngọt, giòn cộng với vị béo của dầu hòa quyện cùng tiếng xuýt xoa nhè nhẹ do vị ớt cay cay, mang lại cảm xúc khó tả cho những ai được thưởng thức món ốc đá này.
Rau ranh ốc đá
Du lịch, GO!
< Đặc sản ốc đá vùng cao.
Để có món ốc đặc sản đãi khách, đồng bào thường cùng nhau lặn lội vào trong rừng sâu, đi dọc các con suối để mò ốc. Gọi là ốc đá, bởi chúng thường bám dưới những hốc đá nằm sâu trong vũng nước, khe suối. Nhiều nhất là sau các đợt lũ. Không chỉ bám dưới hốc đá, ốc nhiều nhất ở dưới lớp rêu nước. Chỉ cần hất nhẹ đám rêu xanh, tha hồ lượm ốc vào giỏ, mang về làm thức ăn hoặc bán.
Có nhiều cách chế biến ốc như luộc chín, tách thịt ốc ra khỏi vỏ nấu cháo hay xào măng hoặc xào ốc trực tiếp với sả, ớt, gừng,… cùng vài gia vị khác, nhưng trước hết phải được tẩy nhờn bằng muối ăn, chặt đuôi ốc. Ở miền núi, ốc đá thường dùng làm mồi uống với rượu cần, tà vạt, tr’đin ngon không gì bằng!
Ngày trước, ốc nhiều, chỉ cần ngụp lặn khoảng hơn 2 tiếng đồng hồ, một người có thể mang về vài ký ốc. Còn giờ đây, ốc đá cạn dần bởi môi trường bị tàn phá. Con suối Pho ngày xưa trẻ thơ tôi theo những chiều mò ốc chỉ còn là một bãi cát khô cằn hoặc là một vũng nước đầy rác thải. Phía thượng nguồn một vài con sông lớn như sông R’lang, A Vương,…, ốc cũng không còn nhiều. Nhiều khúc sông, những bãi đá đứng lô nhô trên một bãi bồi trơ đáy. Bởi vậy, lên vùng cao được tiếp đãi bằng những món ốc đá xào sả mới thấy giá trị tình cảm và tấm lòng của người dân miền ngược dành cho những vị khách của mình.
Anh Tạ Vĩnh Yên, cán bộ tỉnh đoàn nói mỗi món ăn có hương vị đặc trưng khác nhau là cả tấm lòng của đồng bào dành cho khách quý của buôn làng, nhưng thích nhất vẫn là món ốc đá. “Vị cay của sả thấm trong thịt ốc chắc, béo, ăn rất tuyệt” - anh Yên nói.
Xem thêm >
Theo Lăng A Cúi (báo Quảng Nam)
< Ốc đá vừa bắt từ suối.
- Để có vài kg ốc này không dễ. Người ta phải huy động cả nhà ra suối quần thảo từ chiều cho đến tối mịt bởi ban ngày ốc chui trốn trong các hốc đá sâu hoắm và chỉ xuất hiện kiếm ăn khi mặt trời bắt đầu xuống núi. Những con ốc này mình dài từ 3 - 7cm, đen trũi chậm chạp bám vào những tảng đá ven bờ suối ăn rong rêu. Ốc đá bắt được mang về chà rửa sạch, chặt phần đuôi để sau khi nấu chín dùng miệng hút cho dễ.
Khử dầu với hành, tỏi, sả băm nhỏ trước khi cho ốc vào nồi, sau đó khuấy đều và tiếp tục cho ớt giã nhuyễn, đường, mắm, muối vừa ăn, để lửa liu riu cho thịt ốc thấm. Thịt ốc đá ngọt, giòn cộng với vị béo của dầu hòa quyện cùng tiếng xuýt xoa nhè nhẹ do vị ớt cay cay, mang lại cảm xúc khó tả cho những ai được thưởng thức món ốc đá này.
Rau ranh ốc đá
Du lịch, GO!
Na - sản vật đất ải Chi Lăng
(TTO) - Không chỉ được biết đến bởi dấu ấn lịch sử lừng lẫy, Chi Lăng (Lạng Sơn) còn được du khách nhớ đến bởi những thương hiệu trái cây nổi tiếng.
< Ải Chi Lăng và những hàng bày bán na bên đường.
Mùa này, nếu có dịp về vùng đất ải chắc chắn bạn sẽ được thưởng thức hương vị ngọt ngào của na (mãng cầu), sản vật nổi tiếng vùng đất này. Những ngày này nếu có dịp đi qua Chi Lăng bạn sẽ bắt gặp hình ảnh người dân rộn ràng chuẩn bị cho mùa thu hoạch na, loại quả nổi tiếng của vùng đất này.
Những xe ôtô chở đầy na vùng núi tấp nập về miền xuôi bỏ mối cho các thương lái. Rất nhiều nơi trồng na nhưng hương vị na ở đây khác hẳn, có thể ngon nhất và cũng là "vựa" na lớn nhất cả nước.
Thú vị nhất với khách lãng du là được tận mắt nhìn thấy cách trồng và thu hoạch na. Những cây na trồng trên núi đá, nhiều nơi cao đến 200m nhưng vẫn um tùm, xanh tốt. Khi thu hoạch bà con nơi đây dùng ròng rọc cẩn thận đưa từng sọt na xuống.
Mọc lên từ những núi đá cao, nghèo chất dinh dưỡng nhưng hương vị na nơi đây hiếm nơi nào sánh bằng. Những cây na cao cỡ 2-5m, quả trĩu nặng trên cành, to tròn, mắt to, căng đều... trông thật thích mắt.
Tháng 7 âm lịch là mùa thu hoạch na rộ, đây cũng là thời điểm na to và ngon nhất. Na thường được phân thành hai loại dai và bở. Na dai có ưu điểm ngọt, để được lâu, không dễ nát, dễ bóc vỏ, múi na nhằn dễ tróc ra khỏi hột và múi cũng dai hơn.
Quả na dai có vỏ mềm, màu xanh, thịt trắng lại ít hạt. Thêm vào đó, na dai được ưa chuộng hơn bởi mùi thơm và vị ngọt sắc, nổi bật hơn so với na bở. Tuy nhiên, mỗi người lại có một cách thưởng thức khác nhau, người thích na dai, người thích vị ngọt nhẹ của na bở.
Đến với Chi Lăng bạn sẽ được thưởng thức cả hai hương vị đặc biệt đó, ở đây có hai khu vực trồng na nổi tiếng: na bở ở khu vực thị trấn Đồng Mỏ và na dai khu vực Đồng Bành. Na ở đây quả to, nhiều thịt, ít hạt và thơm ngon, thưởng thức một lần bạn sẽ nhớ mãi. Nhẹ nhàng bóc vỏ, tách đôi quả na sẽ thấy lớp cơm trắng ngần hiện ra ngon lành. Múi na dày thịt, hạt nhỏ màu nâu sậm, thử cắn một miếng sẽ cảm nhận vị ngọt đậm đà lan tỏa khắp miệng.
Nếu có dịp khám phá Lạng Sơn mùa này, các bạn nhớ qua cửa ải Chi Lăng để tìm về với những chiến công lịch sử, thưởng thức đặc sản của vùng đất này, và đừng quên lựa những trái na to, thơm ngon mang hương vị của nắng gió cùng tình cảm của con người nơi đây về làm quà cho bạn bè, người thân.
Xem thêm >
Theo Hoàng Hân (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
< Ải Chi Lăng và những hàng bày bán na bên đường.
Mùa này, nếu có dịp về vùng đất ải chắc chắn bạn sẽ được thưởng thức hương vị ngọt ngào của na (mãng cầu), sản vật nổi tiếng vùng đất này. Những ngày này nếu có dịp đi qua Chi Lăng bạn sẽ bắt gặp hình ảnh người dân rộn ràng chuẩn bị cho mùa thu hoạch na, loại quả nổi tiếng của vùng đất này.
Những xe ôtô chở đầy na vùng núi tấp nập về miền xuôi bỏ mối cho các thương lái. Rất nhiều nơi trồng na nhưng hương vị na ở đây khác hẳn, có thể ngon nhất và cũng là "vựa" na lớn nhất cả nước.
Thú vị nhất với khách lãng du là được tận mắt nhìn thấy cách trồng và thu hoạch na. Những cây na trồng trên núi đá, nhiều nơi cao đến 200m nhưng vẫn um tùm, xanh tốt. Khi thu hoạch bà con nơi đây dùng ròng rọc cẩn thận đưa từng sọt na xuống.
Mọc lên từ những núi đá cao, nghèo chất dinh dưỡng nhưng hương vị na nơi đây hiếm nơi nào sánh bằng. Những cây na cao cỡ 2-5m, quả trĩu nặng trên cành, to tròn, mắt to, căng đều... trông thật thích mắt.
Tháng 7 âm lịch là mùa thu hoạch na rộ, đây cũng là thời điểm na to và ngon nhất. Na thường được phân thành hai loại dai và bở. Na dai có ưu điểm ngọt, để được lâu, không dễ nát, dễ bóc vỏ, múi na nhằn dễ tróc ra khỏi hột và múi cũng dai hơn.
Quả na dai có vỏ mềm, màu xanh, thịt trắng lại ít hạt. Thêm vào đó, na dai được ưa chuộng hơn bởi mùi thơm và vị ngọt sắc, nổi bật hơn so với na bở. Tuy nhiên, mỗi người lại có một cách thưởng thức khác nhau, người thích na dai, người thích vị ngọt nhẹ của na bở.
Đến với Chi Lăng bạn sẽ được thưởng thức cả hai hương vị đặc biệt đó, ở đây có hai khu vực trồng na nổi tiếng: na bở ở khu vực thị trấn Đồng Mỏ và na dai khu vực Đồng Bành. Na ở đây quả to, nhiều thịt, ít hạt và thơm ngon, thưởng thức một lần bạn sẽ nhớ mãi. Nhẹ nhàng bóc vỏ, tách đôi quả na sẽ thấy lớp cơm trắng ngần hiện ra ngon lành. Múi na dày thịt, hạt nhỏ màu nâu sậm, thử cắn một miếng sẽ cảm nhận vị ngọt đậm đà lan tỏa khắp miệng.
Nếu có dịp khám phá Lạng Sơn mùa này, các bạn nhớ qua cửa ải Chi Lăng để tìm về với những chiến công lịch sử, thưởng thức đặc sản của vùng đất này, và đừng quên lựa những trái na to, thơm ngon mang hương vị của nắng gió cùng tình cảm của con người nơi đây về làm quà cho bạn bè, người thân.
Xem thêm >
Theo Hoàng Hân (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Đến Quảng Ngãi ăn don sông Trà
(Báo Vĩnh Long) - Dọc theo Quốc lộ 1A, ngang qua thị trấn Châu Ổ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, người đi đường dễ dàng bắt gặp rất nhiều quán nhỏ ven đường có bảng “don”. Thử một lần dừng chân ghé quán, chắc hẳn thực khách không thể nào quên được cái vị ngọt dịu, thanh mát từ những con don bé xíu nơi hạ nguồn sông Trà.
< Don là món ăn dân dã, đậm đà phong vị quê hương, ngon miệng.
Don thuộc họ nhà hến, thân bọc bằng hai nửa vỏ úp nhau tựa hình hột xoài. Nếu hến ở môi trường nước ngọt thì don sinh sôi nảy nở nhiều nhất ở môi trường nước lợ (nơi tiếp giáp giữa sông và biển).
< Dụng cụ cào don nặng hơn 10 kg, gồm một cán tre dài 2,5 m, thùng cào dài 1 m. Dụng cụ cào được gắn với dây đeo vào ngang hông, người cào một tay cầm cán tre, tay còn lại tì thắt lưng lấy thế đi giật lùi.
Thường bắt đầu tháng 4, tháng 5, khi mùa khô hạn đã đến, người dân quanh con sông Trà lại vào mùa cào don. Người ta thường đi cào don vào lúc nước ròng tức lúc con nước đang xuống. Vì sống vùi mình dưới cát nên công việc cào don có vẻ như khó hơn xúc hến. Hôm gặp nước lớn phải ngâm hàng giờ trong nước mới đủ lượng don cho buổi chợ ngày mai.
Don thường lẫn nhiều sỏi, rác nên sau khi bắt về, phải tỉ mỉ rửa nhiều lần, đem ngâm cho nhả hết bùn cát rồi mới cho vào nồi luộc đang nghi ngút khói, gặp nóng đột ngột don sẽ tách hết vỏ, nở bung ra, đảo vài lượt cho don rời khỏi vỏ, sau đó đãi ra lấy ruột (thịt don).
Những con don thân chỉ bằng đầu mút đũa ấy vậy mà chế biến rất nhiều món ngon. Phổ biến nhất là món canh don. Trước khi nấu, phải chuẩn bị các phụ gia không thể thiếu là ớt, một ít hành lá, tiêu rừng và bánh tráng nướng. Người ta dùng nước luộc don chắt lấy phần nước trong, bắc lên bếp đun lại cho nước sôi già, cho ruột don mới đãi vào, đợi nồi canh sôi lại nêm gia vị vừa ăn, sau đó mới thả rau thơm đã được cắt nhỏ vào là có một nồi canh don ngọt ngào, mát lành.
Cũng có thể chế biến món don xào, rất đơn giản nhưng lại khá ngon. Khử dầu chín, cho don vào xào đến khi thấy don săn lại, nổ lách tách trong chảo thì nêm nước mắm ngọt, thêm tiêu, ớt chín, một ít hành tây rồi tắt bếp.
Món này nhâm nhi với rượu chắc chắn thực khách sẽ cứ xuýt xoa khen ngon hoài. Nhưng có lẽ độc đáo nhất là món cháo don. Vo một nhúm gạo, nấu cùng với nước luộc don đến khi gạo chín nhuyễn, cho thêm một ít gừng tươi rồi nhắc xuống. Cháo don vừa ngọt, thanh, dậy lên hương thơm quyến rũ, ấm nóng của các loại gia vị như hành, sả, tiêu là món ăn thích hợp cho cả người lớn và trẻ nhỏ.
Những ai đã từng một lần dừng chân bên con sông Trà, được thưởng thức các món từ don mới cảm nhận hết hương vị mặn mòi tình sông nước nơi đây.
Xem thêm >
Theo THANH LY (Vĩnh Long Online)
Du lịch, GO!
Hít hà...Don!
< Don là món ăn dân dã, đậm đà phong vị quê hương, ngon miệng.
Don thuộc họ nhà hến, thân bọc bằng hai nửa vỏ úp nhau tựa hình hột xoài. Nếu hến ở môi trường nước ngọt thì don sinh sôi nảy nở nhiều nhất ở môi trường nước lợ (nơi tiếp giáp giữa sông và biển).
< Dụng cụ cào don nặng hơn 10 kg, gồm một cán tre dài 2,5 m, thùng cào dài 1 m. Dụng cụ cào được gắn với dây đeo vào ngang hông, người cào một tay cầm cán tre, tay còn lại tì thắt lưng lấy thế đi giật lùi.
Thường bắt đầu tháng 4, tháng 5, khi mùa khô hạn đã đến, người dân quanh con sông Trà lại vào mùa cào don. Người ta thường đi cào don vào lúc nước ròng tức lúc con nước đang xuống. Vì sống vùi mình dưới cát nên công việc cào don có vẻ như khó hơn xúc hến. Hôm gặp nước lớn phải ngâm hàng giờ trong nước mới đủ lượng don cho buổi chợ ngày mai.
Don thường lẫn nhiều sỏi, rác nên sau khi bắt về, phải tỉ mỉ rửa nhiều lần, đem ngâm cho nhả hết bùn cát rồi mới cho vào nồi luộc đang nghi ngút khói, gặp nóng đột ngột don sẽ tách hết vỏ, nở bung ra, đảo vài lượt cho don rời khỏi vỏ, sau đó đãi ra lấy ruột (thịt don).
Những con don thân chỉ bằng đầu mút đũa ấy vậy mà chế biến rất nhiều món ngon. Phổ biến nhất là món canh don. Trước khi nấu, phải chuẩn bị các phụ gia không thể thiếu là ớt, một ít hành lá, tiêu rừng và bánh tráng nướng. Người ta dùng nước luộc don chắt lấy phần nước trong, bắc lên bếp đun lại cho nước sôi già, cho ruột don mới đãi vào, đợi nồi canh sôi lại nêm gia vị vừa ăn, sau đó mới thả rau thơm đã được cắt nhỏ vào là có một nồi canh don ngọt ngào, mát lành.Cũng có thể chế biến món don xào, rất đơn giản nhưng lại khá ngon. Khử dầu chín, cho don vào xào đến khi thấy don săn lại, nổ lách tách trong chảo thì nêm nước mắm ngọt, thêm tiêu, ớt chín, một ít hành tây rồi tắt bếp.
Món này nhâm nhi với rượu chắc chắn thực khách sẽ cứ xuýt xoa khen ngon hoài. Nhưng có lẽ độc đáo nhất là món cháo don. Vo một nhúm gạo, nấu cùng với nước luộc don đến khi gạo chín nhuyễn, cho thêm một ít gừng tươi rồi nhắc xuống. Cháo don vừa ngọt, thanh, dậy lên hương thơm quyến rũ, ấm nóng của các loại gia vị như hành, sả, tiêu là món ăn thích hợp cho cả người lớn và trẻ nhỏ.Những ai đã từng một lần dừng chân bên con sông Trà, được thưởng thức các món từ don mới cảm nhận hết hương vị mặn mòi tình sông nước nơi đây.
Xem thêm >
Theo THANH LY (Vĩnh Long Online)
Du lịch, GO!
Hít hà...Don!
Bún súng Vũng Tàu
(Saigon Amthuc) - Bún súng Vũng Tàu nhiều người hay nhầm với bún nước lèo của Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau… nhưng ở đây là sự kết hợp mùi vị của ba nền văn hóa Khmer, Hoa và Việt. Bún được chan nước lèo nấu từ hải sản như cá, tôm, mực và ăn kèm bao giờ cũng là rau súng.
Để có một nồi bún súng thơm ngon thì sợi bún, nước lèo, hải sản, cọng súng tất cả đều phải tươi. Tôm, cá, mực làm sạch, hấp chín, sau đó xào sả ớt cho thấm gia vị. (Nếu luộc hải sản thì giữ lại nước để nấu nước lèo, đây chính là bí quyết giúp nước bún luôn ngọt ngon). Thường thì người ta vẫn ninh xương heo lấy nước làm nước lèo cho ngọt.
< Bún súng Vũng Tàu vs bún mắm Bạc Liêu trong liên hoan ẩm thực miền Trung.
Sở dĩ bún súng Vũng Tàu có mùi vị đặc trưng là nhờ ở cách nêm nếm gia vị. Nước lèo được nấu từ mắm cá (cá sặc, cá linh, cá kèo, bò hóc hoặc cá lóc) sả đập dập, ớt. Mắm trước khi cho vào nước lèo phải được lọc kĩ, chỉ dùng nước trong thì nước lèo mới không có mùi nồng khó chịu. Đợi nước lèo sôi, mới nêm nếm muối, đường, bột nêm, nước cốt me, ớt sa tế vào để nước lèo có vị chua ngọt đậm đà. Trong quá trình nấu nước lèo, thả thêm mấy cây sả đập dập vào cho thơm.
Súng tước vỏ, nhặt sạch, cắt khúc vừa ăn. Bún tươi chọn loại cọng nhỏ, nhúng nước nóng cho tơi sợi. Rau ăn cùng gồm có ngò om, rau thơm, rau muống, bắp chuối bào sợi, và rau súng. Gia vị dọn kèm thường có hũ ớt tươi hoặc ớt sa tế, tỏi muối chua, nước mắm chanh hay muối ớt.
Lấy một ít cọng súng, bún cho vào tô, trang trí cá, tôm, mực lên trên, chan nước lèo cho ngập mặt bún. Trang trí thêm tỏi phi, đầu hành (đã chần qua nước ấm) ăn nóng… Cọng súng màu tím, sợi bún trắng, nước dùng nóng tỏa mùi thơm ngào ngạt dễ khiến người ăn thích thú.
Vũng Tàu cách TP. Hồ Chí Minh không bao xa (khoảng hơn 100km về phía Đông Nam), cuối tuần cao hứng bạn có thể làm một chuyến du lịch bằng xe máy dạo biển, thưởng thức hải sản và đừng quên tìm ăn bún súng nhé.
Xem thêm >
Theo Đoàn Xuân (Sàigòn Ẩm thực)
Du lịch, GO!
Để có một nồi bún súng thơm ngon thì sợi bún, nước lèo, hải sản, cọng súng tất cả đều phải tươi. Tôm, cá, mực làm sạch, hấp chín, sau đó xào sả ớt cho thấm gia vị. (Nếu luộc hải sản thì giữ lại nước để nấu nước lèo, đây chính là bí quyết giúp nước bún luôn ngọt ngon). Thường thì người ta vẫn ninh xương heo lấy nước làm nước lèo cho ngọt.
< Bún súng Vũng Tàu vs bún mắm Bạc Liêu trong liên hoan ẩm thực miền Trung.
Sở dĩ bún súng Vũng Tàu có mùi vị đặc trưng là nhờ ở cách nêm nếm gia vị. Nước lèo được nấu từ mắm cá (cá sặc, cá linh, cá kèo, bò hóc hoặc cá lóc) sả đập dập, ớt. Mắm trước khi cho vào nước lèo phải được lọc kĩ, chỉ dùng nước trong thì nước lèo mới không có mùi nồng khó chịu. Đợi nước lèo sôi, mới nêm nếm muối, đường, bột nêm, nước cốt me, ớt sa tế vào để nước lèo có vị chua ngọt đậm đà. Trong quá trình nấu nước lèo, thả thêm mấy cây sả đập dập vào cho thơm.
Súng tước vỏ, nhặt sạch, cắt khúc vừa ăn. Bún tươi chọn loại cọng nhỏ, nhúng nước nóng cho tơi sợi. Rau ăn cùng gồm có ngò om, rau thơm, rau muống, bắp chuối bào sợi, và rau súng. Gia vị dọn kèm thường có hũ ớt tươi hoặc ớt sa tế, tỏi muối chua, nước mắm chanh hay muối ớt.Lấy một ít cọng súng, bún cho vào tô, trang trí cá, tôm, mực lên trên, chan nước lèo cho ngập mặt bún. Trang trí thêm tỏi phi, đầu hành (đã chần qua nước ấm) ăn nóng… Cọng súng màu tím, sợi bún trắng, nước dùng nóng tỏa mùi thơm ngào ngạt dễ khiến người ăn thích thú.
Vũng Tàu cách TP. Hồ Chí Minh không bao xa (khoảng hơn 100km về phía Đông Nam), cuối tuần cao hứng bạn có thể làm một chuyến du lịch bằng xe máy dạo biển, thưởng thức hải sản và đừng quên tìm ăn bún súng nhé.
Xem thêm >
Theo Đoàn Xuân (Sàigòn Ẩm thực)
Du lịch, GO!
Vẹm nướng bãi U - Sơn Trà
(TTO) - Buổi chiều hoang dã ở bãi U bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) với món vẹm nướng tự tay mình đánh bắt. Những món vẹm trong nhà hàng có liệu thể sánh bằng những con vẹm nướng vỏ còn dính đầy cát biển ở một nơi biệt lập, cách xa thành phố?
“Quẳng gánh lo đi... ” - cô bạn đang làm nghề bảo tồn ở Đà Nẵng rỉ tai khi tổ chức một cuộc picnic tập thể nhớ đời ở bãi U - Sơn Trà cho đám bạn bè tứ phương họp mặt.
Xuất phát từ bến thuyền Thọ Quang vào buổi sáng, loáng cái cả nhóm đã đổ bộ lên bãi U - một bãi cát nhỏ có nước ngọt, điều kiện quan trọng nhất để cắm trại qua đêm.
Trong lúc các bạn đang loay hoay dựng lều, sắp xếp đồ đạc, một số tranh thủ đi bơi, lặn ngắm san hô, gỡ hàu đá, ốc vú nàng ở các gành đá, rạn đá quanh đó thì các thổ địa quyết định lên tàu ra biển kiếm thêm ít hải sản tươi.
Xế chiều, chiếc tàu quay lại bãi, buông neo, một chiếc thùng to được chuyển lên thuyền thúng cập bờ. Chuyến ra khơi ngắn nhưng mang về đủ các loại ốc nón, ốc gai, cá mú, tôm hùm (loại nhỏ), đặc biệt rất nhiều vẹm to bằng bàn tay.
Một ngư dân áo quần sũng nước dùng viên đá gõ vào vỏ vẹm để kiểm tra xem chúng còn sống không trước khi đem mớ hải sản đặt lên giàn nướng trên đống than củi đã đốt cháy âm ỉ tự lúc nào.
Vẹm là một dạng sinh vật hai mảnh vỏ sò hình oval màu tối, sinh sống ở những vùng nước mặn nơi thủy triều lên xuống. Đây cũng là một trong những món hải sản khá phổ biến ở các quán nhậu Đà Nẵng.
Thường ở đất liền, vẹm hay được chế biến cầu kỳ như luộc chấm muối tiêu chanh, nướng mỡ hành, bơ tỏi. Nhưng ở đây, giữa thiên nhiên hoang dã và điều kiện hạn chế, nước ngọt, mỡ hành, bơ tỏi kiếm đâu ra, thế nên cứ tùy tiện mà đặt lên than củi, nướng suông rồi chấm muối tiêu chanh, thế cũng oách lắm rồi.
Quả thực, mấy bạn đi lặn về, ngâm người lâu dưới làn nước biển, vừa cập bờ đã ngửi thấy mùi hải sản nướng thơm nức, hít lấy hít để, ấm sực cả người.
Cá mú, tôm hùm loại nhỏ thì dễ ăn rồi, mấy cô gái xúm vào chia nhau, mút mát, tấm tắc, ngon như chưa bao giờ được ăn. Tôm hùm tuy nhỏ nhưng thịt dai và ngọt, thêm vị khét của kiểu nướng hoang đảo nên vị giác lúc này quả thực khó tả.
Mấy chàng trai dùng đá cuội để đập vỡ vỏ ốc nón, ốc gai, khéo léo để thịt ốc lộ ra mà không bị dính cát, dính mảnh vỏ vỡ. Thật là ăn uống phức tạp lại mất công nên bữa tiệc nướng trở nên ngon quá chừng.
Vẹm nhiều hơn cả, nướng cả giàn mỗi người vài con, không phải chia nhau như chút hải sản kia. Củi kiếm từ chiều, giờ phát huy giá trị, cháy đượm, than hồng, chẳng mấy vẹm đã được nướng chín, mở miệng. Chỉ cần chờ nguội một chút, lột thịt vẹm ra chấm vào đĩa tiêu chanh. Chao ôi, cái vị ngọt nhẹ, thơm và béo ngậy tan ra nơi cuống họng, kèm theo vị cay của tiêu, thật đã đời.
Loáng một cái đã hết veo cả thùng hải sản tươi vừa đánh bắt ban chiều. Bãi U ơi, thật cảm ơn một buổi chiều hoang dại đã trôi qua trong cuộc đời như thế.
Nhớ hoài bãi U...
Xem thêm >
Theo THỦY OCG (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
“Quẳng gánh lo đi... ” - cô bạn đang làm nghề bảo tồn ở Đà Nẵng rỉ tai khi tổ chức một cuộc picnic tập thể nhớ đời ở bãi U - Sơn Trà cho đám bạn bè tứ phương họp mặt.
Xuất phát từ bến thuyền Thọ Quang vào buổi sáng, loáng cái cả nhóm đã đổ bộ lên bãi U - một bãi cát nhỏ có nước ngọt, điều kiện quan trọng nhất để cắm trại qua đêm.
Trong lúc các bạn đang loay hoay dựng lều, sắp xếp đồ đạc, một số tranh thủ đi bơi, lặn ngắm san hô, gỡ hàu đá, ốc vú nàng ở các gành đá, rạn đá quanh đó thì các thổ địa quyết định lên tàu ra biển kiếm thêm ít hải sản tươi.
Xế chiều, chiếc tàu quay lại bãi, buông neo, một chiếc thùng to được chuyển lên thuyền thúng cập bờ. Chuyến ra khơi ngắn nhưng mang về đủ các loại ốc nón, ốc gai, cá mú, tôm hùm (loại nhỏ), đặc biệt rất nhiều vẹm to bằng bàn tay.
Một ngư dân áo quần sũng nước dùng viên đá gõ vào vỏ vẹm để kiểm tra xem chúng còn sống không trước khi đem mớ hải sản đặt lên giàn nướng trên đống than củi đã đốt cháy âm ỉ tự lúc nào.
Vẹm là một dạng sinh vật hai mảnh vỏ sò hình oval màu tối, sinh sống ở những vùng nước mặn nơi thủy triều lên xuống. Đây cũng là một trong những món hải sản khá phổ biến ở các quán nhậu Đà Nẵng.
Thường ở đất liền, vẹm hay được chế biến cầu kỳ như luộc chấm muối tiêu chanh, nướng mỡ hành, bơ tỏi. Nhưng ở đây, giữa thiên nhiên hoang dã và điều kiện hạn chế, nước ngọt, mỡ hành, bơ tỏi kiếm đâu ra, thế nên cứ tùy tiện mà đặt lên than củi, nướng suông rồi chấm muối tiêu chanh, thế cũng oách lắm rồi.
Quả thực, mấy bạn đi lặn về, ngâm người lâu dưới làn nước biển, vừa cập bờ đã ngửi thấy mùi hải sản nướng thơm nức, hít lấy hít để, ấm sực cả người.Cá mú, tôm hùm loại nhỏ thì dễ ăn rồi, mấy cô gái xúm vào chia nhau, mút mát, tấm tắc, ngon như chưa bao giờ được ăn. Tôm hùm tuy nhỏ nhưng thịt dai và ngọt, thêm vị khét của kiểu nướng hoang đảo nên vị giác lúc này quả thực khó tả.
Mấy chàng trai dùng đá cuội để đập vỡ vỏ ốc nón, ốc gai, khéo léo để thịt ốc lộ ra mà không bị dính cát, dính mảnh vỏ vỡ. Thật là ăn uống phức tạp lại mất công nên bữa tiệc nướng trở nên ngon quá chừng.
Vẹm nhiều hơn cả, nướng cả giàn mỗi người vài con, không phải chia nhau như chút hải sản kia. Củi kiếm từ chiều, giờ phát huy giá trị, cháy đượm, than hồng, chẳng mấy vẹm đã được nướng chín, mở miệng. Chỉ cần chờ nguội một chút, lột thịt vẹm ra chấm vào đĩa tiêu chanh. Chao ôi, cái vị ngọt nhẹ, thơm và béo ngậy tan ra nơi cuống họng, kèm theo vị cay của tiêu, thật đã đời.
Loáng một cái đã hết veo cả thùng hải sản tươi vừa đánh bắt ban chiều. Bãi U ơi, thật cảm ơn một buổi chiều hoang dại đã trôi qua trong cuộc đời như thế.
Nhớ hoài bãi U...
Xem thêm >
Theo THỦY OCG (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Bò treo gác bếp ở Cao Bằng
(SGTT.VN) - Anh bạn đi du lịch miền núi phía Bắc về, đem cho gói quà, bảo: bò khô, đặc sản Cao Bằng đó. Mở ra, thấy mấy thỏi thịt to chừng ba ngón tay, cứng queo. “Chưa ăn được ngay đâu, phải kỳ phu mới chén được!”, anh bạn tôi chặc lưỡi vậy.
Anh xắn tay áo, trổ tài làm bếp. Thỏi bò khô đem ngâm trong nước nóng chừng mươi phút rồi vớt ra rửa sạch. Thịt lúc này đã mềm, không còn rắn đanh như trước nữa. Thái thịt từng lát mỏng, ướp với chút muối, bột ngọt, dầu ăn và cả vài thìa rượu trắng. Gừng tươi thái chỉ. Tỏi đập giập, xắt nhuyễn. Ớt thái lát mỏng. Thế là xong khâu chuẩn bị.
Bắc chảo lên bếp, chờ cho chảo nóng già, cho thịt vào, đảo đều. Một lát, cho nước xâm xấp, rồi để lửa liu riu, om cho đến khi cạn nước. Sau cùng là tra gừng, tỏi, thêm vài thìa rượu trắng nữa. Lúc này, mùi thơm bắt đầu đưa lên ngào ngạt khiến vị giác khó cưỡng.
Dĩa bò khô, lát nào lát nấy nâu đỏ, săn chắc, loáng thoáng những sợi gừng vàng tươi, những lát ớt đỏ. Thịt khô nhưng không cứng mà lại mềm, dai mà không bở, càng nhai càng ngọt, cay thơm.
Vừa nhâm nhi, anh bạn vừa kể: Cao Bằng là nơi nuôi nhiều bò, nhất là các huyện Hà Quảng, Bảo Lạc, Bảo Lâm. Bò để kéo cày bừa, kéo xe, bò để thịt cũng nhiều. Sấy khô là cách chế biến để bảo quản, dự trữ thức ăn theo tập quán lâu đời của người Tày, Nùng nơi đây. Thịt bò sấy khô theo kiểu này vừa để được lâu lại vừa có hương vị riêng thật độc đáo.
Thịt bò sấy khô loại nào cũng được, kể cả bầy nhầy bạc nhạc. Nhưng ngon nhất vẫn là loại thịt mông, thịt bắp, vừa nạc vừa mềm. Thịt được xẻ ra thành từng miếng, to nhỏ tuỳ thích nhưng thường cỡ ba ngón tay, dài gang tay là vừa nhất.
Thịt tẩm ướp bằng muối, nước cốt gừng và rượu trắng. Trước khi ướp, khía vài đường trên miếng thịt cho gia vị ngấm đều. Ướp xong, dùng lạt tre xâu thịt thành từng xâu rồi treo trên gác bếp. Bếp của người Tày, Nùng suốt ngày đêm lúc nào cũng ấm lửa. Hơi lửa, hơi khói hong mà thịt khô dần. Chừng mươi bữa nửa tháng là đem xuống dùng được.
Trước đây, người dân tự làm thịt bò khô để dành ăn dần, tự cung tự cấp là chính. Bây giờ, có nhiều cơ sở sản xuất, chế biến thịt bò khô bán ra thị trường. Tuy cách chế biến có khác cách làm truyền thống đôi chút – thịt bò được sấy bằng than củi trong lò – nhưng hương vị vẫn không kém đi.
“Đến Cao Bằng, ai mà chẳng mua lấy ít bò khô về cùng người thân thưởng thức”, anh bạn tôi cứ gật gù nói vậy.
Xem thêm >
Theo Hoàng Minh Sơn (báo Sàigòn Tiếp Thị)
Du lịch, GO!
Anh xắn tay áo, trổ tài làm bếp. Thỏi bò khô đem ngâm trong nước nóng chừng mươi phút rồi vớt ra rửa sạch. Thịt lúc này đã mềm, không còn rắn đanh như trước nữa. Thái thịt từng lát mỏng, ướp với chút muối, bột ngọt, dầu ăn và cả vài thìa rượu trắng. Gừng tươi thái chỉ. Tỏi đập giập, xắt nhuyễn. Ớt thái lát mỏng. Thế là xong khâu chuẩn bị.
Bắc chảo lên bếp, chờ cho chảo nóng già, cho thịt vào, đảo đều. Một lát, cho nước xâm xấp, rồi để lửa liu riu, om cho đến khi cạn nước. Sau cùng là tra gừng, tỏi, thêm vài thìa rượu trắng nữa. Lúc này, mùi thơm bắt đầu đưa lên ngào ngạt khiến vị giác khó cưỡng.
Dĩa bò khô, lát nào lát nấy nâu đỏ, săn chắc, loáng thoáng những sợi gừng vàng tươi, những lát ớt đỏ. Thịt khô nhưng không cứng mà lại mềm, dai mà không bở, càng nhai càng ngọt, cay thơm.
Vừa nhâm nhi, anh bạn vừa kể: Cao Bằng là nơi nuôi nhiều bò, nhất là các huyện Hà Quảng, Bảo Lạc, Bảo Lâm. Bò để kéo cày bừa, kéo xe, bò để thịt cũng nhiều. Sấy khô là cách chế biến để bảo quản, dự trữ thức ăn theo tập quán lâu đời của người Tày, Nùng nơi đây. Thịt bò sấy khô theo kiểu này vừa để được lâu lại vừa có hương vị riêng thật độc đáo.
Thịt bò sấy khô loại nào cũng được, kể cả bầy nhầy bạc nhạc. Nhưng ngon nhất vẫn là loại thịt mông, thịt bắp, vừa nạc vừa mềm. Thịt được xẻ ra thành từng miếng, to nhỏ tuỳ thích nhưng thường cỡ ba ngón tay, dài gang tay là vừa nhất.
Thịt tẩm ướp bằng muối, nước cốt gừng và rượu trắng. Trước khi ướp, khía vài đường trên miếng thịt cho gia vị ngấm đều. Ướp xong, dùng lạt tre xâu thịt thành từng xâu rồi treo trên gác bếp. Bếp của người Tày, Nùng suốt ngày đêm lúc nào cũng ấm lửa. Hơi lửa, hơi khói hong mà thịt khô dần. Chừng mươi bữa nửa tháng là đem xuống dùng được.
Trước đây, người dân tự làm thịt bò khô để dành ăn dần, tự cung tự cấp là chính. Bây giờ, có nhiều cơ sở sản xuất, chế biến thịt bò khô bán ra thị trường. Tuy cách chế biến có khác cách làm truyền thống đôi chút – thịt bò được sấy bằng than củi trong lò – nhưng hương vị vẫn không kém đi.
“Đến Cao Bằng, ai mà chẳng mua lấy ít bò khô về cùng người thân thưởng thức”, anh bạn tôi cứ gật gù nói vậy.
Xem thêm >
Theo Hoàng Minh Sơn (báo Sàigòn Tiếp Thị)
Du lịch, GO!
Độc đáo ẩm thực vùng cao A Lưới
(Thuathien-Hue) - Sống trên vùng núi cao, thiên nhiên đã ban tặng cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở huyện A Lưới (Thừa Thiên-Huế) nguồn sản vật phong phú, làm nên nhiều món ăn đơn giản, dân dã, thể hiện rõ tính bản địa, nét độc đáo riêng trong văn hóa ẩm thực.
< Nếu không được mùa, người Tà Ôi sẽ tổ chức lễ hội đâm trâu.
Cũng như nhiều cộng đồng cư trú trên dãy Trường Sơn, các tộc người Ka tu, Tà ôi, Pa cô ở A Lưới đã tạo nên đặc trưng trong văn hóa ẩm thực phù hợp với môi trường sống của mình.
< Những món ăn của người dân miền núi giản đơn như chính cuộc sống hoang dã từ ngàn xưa.
Những món ăn được chế biến từ ngũ cốc như: xôi hông (adeep ihoat), xôi thui ống, cơm ống/lam (adeep ihoor)… phổ biến trong các lễ hội của người Tà ôi, Katu, Pa cô và là món đồng bào thường dâng cúng thần, đãi khách. Cơm nếp lam (Đooi chot) là món phổ biến nhất của người Pacô. Bà con thường dùng nếp than để chế biến món này. Đây là loại nếp hạt nhỏ, dẻo, mềm…
Trước khi nấu, lấy (nếp) bỏ vào ống nứa đã rửa sạch, rồi đổ nước vào ngập miệng ống, ngâm một đêm cho gạo mềm. Hôm sau, người ta sẽ đổ nước ra, lấy lá chuối bịt miệng ống và đặt trên bếp than. Người nấu ngồi bên bếp lửa cầm ống nứa trở qua trở lại, từ đáy ống dần lên miệng ống. Khi mùi thơm của cơm nếp lan tỏa, ống nứa mềm thì cơm chín tới.
Các món chế biến từ thịt như thịt nướng tươi, nướng khô, nướng trực tiếp hay nướng bằng ống tre, xào, lạp thịt, thịt heo muối chua cũng là sự thú vị bất ngờ với khách miền xuôi. Từ cách chế biến đơn giản: Thịt thái nhỏ, cho vào hũ, ché hoặc ống tre, dùng tiêu rừng, muối gạo rang giã nhỏ, trộn đều lại với nhau rồi ủ kín, gác trên giàn bếp khoảng 7 - 10 ngày. Như vậy, thịt có thể sử dụng trong thời gian dài mà vẫn không mất mùi vị.
Hấp dẫn nhất là món chuột nướng ống (A ật đù i hoor) và ếch nướng ống (A cụt đù i hoor). Chuột rừng hoặc ếch ở hốc núi đá được làm sạch, ướp gia vị cho vào ống tre. Miệng ống được bịt kín bằng lá chuối rồi đem nướng. Hơi nước trong ống tre sẽ làm thịt chín mà không bị khô, cháy. Món ăn này có thể bảo quản bằng cách treo lên gác bếp từ 4-5 tháng mà thịt vẫn tươi ngon.
< Sùng tre A Lưới.
Các món ăn được chế biến từ cá, như cá gói lá rừng vùi tro, cá nướng, lạp cá, gỏi cá, cá nướng ống, mắm cá (pa đẹec buỏi)... cũng là món ăn ngon của đồng bào vùng cao. Cá suối được ướp với gừng rừng, ớt, chanh rồi xâu vào que tre, nướng đến khi cá có màu vàng, có thể bảo quản trong thời gian dài mà không bị ôi thiu. Khi nào dùng có thể nấu cháo, nấu canh.
Ngoài ra, các loại côn trùng: mối (cláp), con dế (Anút), kiến chua (Aling ca xâu), kiến thơm, (Alinh ca do), kiến đỏ (Kasâu), nhộng ong (Càroi Acon Ghi zớ)... cũng thường hiện diện trong bữa ăn hàng ngày hay trong các dịp tết, lễ, cưới, hội làng.
Đối với các dân tộc thiểu số ở A Lưới, rượu có vai trò quan trọng trong đời sống ẩm thực. Các loại rượu của người Tà ôi, Ka tu và Pa cô rất đa dạng như Ariêu Tà vạc (rượu Tà vạc), Ariêu Par đin (rượu Tà đin), Bhua/a riêu thăn (rượu sắn), Avíeet (rượu mía), Adương (rượu mây), Ariêu Chĩa (rượu dứa)... Các loại rượu này có sự khác nhau về nồng độ, hương vị nhưng đều góp mặt trong bữa ăn thường ngày ở các gia đình cũng như các hội lớn của làng, bản.
Có thể nói, rượu Tà vạc, Tà đin (loại cây mọc trong rừng hoặc được đem về trồng) là đặc sản phổ biến đối với các tộc người ở A Lưới. Cách làm men để chế biến các loại rượu có một vai trò quan trọng trong việc chế biến. Men rượu được làm từ nhiều loại cây như củ riềng (pari), rễ cây ớt (ria pơrớ), rễ cây chè hăng... giã nát, trộn lẫn bột gạo, vo thành viên nhỏ phơi khô.
Xem thêm >
Theo Minh Hiền (Thừa Thiên -Huế Online)
Du lịch, GO!
< Nếu không được mùa, người Tà Ôi sẽ tổ chức lễ hội đâm trâu.
Cũng như nhiều cộng đồng cư trú trên dãy Trường Sơn, các tộc người Ka tu, Tà ôi, Pa cô ở A Lưới đã tạo nên đặc trưng trong văn hóa ẩm thực phù hợp với môi trường sống của mình.
< Những món ăn của người dân miền núi giản đơn như chính cuộc sống hoang dã từ ngàn xưa.
Những món ăn được chế biến từ ngũ cốc như: xôi hông (adeep ihoat), xôi thui ống, cơm ống/lam (adeep ihoor)… phổ biến trong các lễ hội của người Tà ôi, Katu, Pa cô và là món đồng bào thường dâng cúng thần, đãi khách. Cơm nếp lam (Đooi chot) là món phổ biến nhất của người Pacô. Bà con thường dùng nếp than để chế biến món này. Đây là loại nếp hạt nhỏ, dẻo, mềm…
Trước khi nấu, lấy (nếp) bỏ vào ống nứa đã rửa sạch, rồi đổ nước vào ngập miệng ống, ngâm một đêm cho gạo mềm. Hôm sau, người ta sẽ đổ nước ra, lấy lá chuối bịt miệng ống và đặt trên bếp than. Người nấu ngồi bên bếp lửa cầm ống nứa trở qua trở lại, từ đáy ống dần lên miệng ống. Khi mùi thơm của cơm nếp lan tỏa, ống nứa mềm thì cơm chín tới.
Các món chế biến từ thịt như thịt nướng tươi, nướng khô, nướng trực tiếp hay nướng bằng ống tre, xào, lạp thịt, thịt heo muối chua cũng là sự thú vị bất ngờ với khách miền xuôi. Từ cách chế biến đơn giản: Thịt thái nhỏ, cho vào hũ, ché hoặc ống tre, dùng tiêu rừng, muối gạo rang giã nhỏ, trộn đều lại với nhau rồi ủ kín, gác trên giàn bếp khoảng 7 - 10 ngày. Như vậy, thịt có thể sử dụng trong thời gian dài mà vẫn không mất mùi vị.
Hấp dẫn nhất là món chuột nướng ống (A ật đù i hoor) và ếch nướng ống (A cụt đù i hoor). Chuột rừng hoặc ếch ở hốc núi đá được làm sạch, ướp gia vị cho vào ống tre. Miệng ống được bịt kín bằng lá chuối rồi đem nướng. Hơi nước trong ống tre sẽ làm thịt chín mà không bị khô, cháy. Món ăn này có thể bảo quản bằng cách treo lên gác bếp từ 4-5 tháng mà thịt vẫn tươi ngon.
< Sùng tre A Lưới.
Các món ăn được chế biến từ cá, như cá gói lá rừng vùi tro, cá nướng, lạp cá, gỏi cá, cá nướng ống, mắm cá (pa đẹec buỏi)... cũng là món ăn ngon của đồng bào vùng cao. Cá suối được ướp với gừng rừng, ớt, chanh rồi xâu vào que tre, nướng đến khi cá có màu vàng, có thể bảo quản trong thời gian dài mà không bị ôi thiu. Khi nào dùng có thể nấu cháo, nấu canh.
Ngoài ra, các loại côn trùng: mối (cláp), con dế (Anút), kiến chua (Aling ca xâu), kiến thơm, (Alinh ca do), kiến đỏ (Kasâu), nhộng ong (Càroi Acon Ghi zớ)... cũng thường hiện diện trong bữa ăn hàng ngày hay trong các dịp tết, lễ, cưới, hội làng.
Đối với các dân tộc thiểu số ở A Lưới, rượu có vai trò quan trọng trong đời sống ẩm thực. Các loại rượu của người Tà ôi, Ka tu và Pa cô rất đa dạng như Ariêu Tà vạc (rượu Tà vạc), Ariêu Par đin (rượu Tà đin), Bhua/a riêu thăn (rượu sắn), Avíeet (rượu mía), Adương (rượu mây), Ariêu Chĩa (rượu dứa)... Các loại rượu này có sự khác nhau về nồng độ, hương vị nhưng đều góp mặt trong bữa ăn thường ngày ở các gia đình cũng như các hội lớn của làng, bản.Có thể nói, rượu Tà vạc, Tà đin (loại cây mọc trong rừng hoặc được đem về trồng) là đặc sản phổ biến đối với các tộc người ở A Lưới. Cách làm men để chế biến các loại rượu có một vai trò quan trọng trong việc chế biến. Men rượu được làm từ nhiều loại cây như củ riềng (pari), rễ cây ớt (ria pơrớ), rễ cây chè hăng... giã nát, trộn lẫn bột gạo, vo thành viên nhỏ phơi khô.
Xem thêm >
Theo Minh Hiền (Thừa Thiên -Huế Online)
Du lịch, GO!
Tươi ngon hải sản Ninh Hòa
(DNSG) - Cách thành phố biển Nha Trang khoảng 20km về phía bắc là những cánh đồng lúa, những cánh đồng muối và những đầm nuôi tôm cùng nhiều loại sinh vật biển khác – đó là Ninh Hòa, Một vùng đất quen thuộc với du khách vì có con đường dẫn tới bãi biển Dốc Lết nổi tiếng, với những hàng quán hải sản tấp nập ven đường quốc lộ 1A.
Hàng quán nơi đây thường là những nhà sàn được dựng trên mặt nước của đầm nuôi hải sản mà chủ quán cũng là chủ đầm. Quán tuềnh toàng, chỉ là phên liếp che chắn trông khá tạm bợ, cũng chẳng có bản thực đơn cầu kỳ ngoài vài dòng viết tay nguệch ngoạc trên tấm bìa cứng, giới thiệu những thứ đồ biển sẵn có.
Trên bàn ăn thường là bằng gỗ tạp có mấy cái hũ nhựa đựng các loại gia vị, đĩa chanh ớt, lọ nước mắm…
Trước khi vào quán, trông những chiếc cột khẳng khiu chống đỡ căn nhà sàn đông thực khách, quả là cũng… ơn ớn, nhưng cảm giác ấy cũng mau chóng tan biến khi các món ăn nóng hổi được dọn ra và lại là những sản vật biển vừa được vớt từ đầm nuôi hay từ biển khơi.
Và đến đây rồi thì thực khách hoàn toàn yên tâm với chất lượng những con cá, mực, tôm… mình ăn. “Tươi rói” là yếu tố đầu tiên mà tất cả những quán ăn ở đây đều đảm bảo, có hơn nhau chăng là ở cách chế biến, nêm nếm gia vị, hoặc thêm một chút về cảnh quan.
Này là những con tôm còn búng tanh tách được chính tay bạn gắp bỏ lên bếp than hồng; chúng cong lại, đỏ ửng lên dưới sức nóng, tỏa mùi thơm… điếc mũi. Lột bỏ lớp vỏ đã cháy sém của con tôm nướng vừa chín tới để lộ ra lớp thịt trắng hồng quyến rũ rồi chấm với chút muối tiêu chanh – không có gì so sánh được với sự ngon lành đó, nhất là khi bạn đang đói ngấu!
Còn một cách thưởng thức món tôm cũng hấp dẫn không kém: hấp với nước dừa tươi vốn rất sẵn ở vùng biển này. Rồi những con mực vừa được câu tối hôm trước đang chờ bạn quyết định sẽ làm món gì: cũng nướng lửa than giản dị, hay hấp gừng hoặc xào chua ngọt với rau củ?
Bạn cũng có thể gọi món rất thông dụng ở vùng biển là mực một nắng nướng. Loại mực chỉ phơi heo héo qua một nắng, nướng lên vẫn còn mềm và chấm với tương ớt tuyệt ngon. Còn với cá thì có nhiều lựa chọn: cá mai để ăn món gỏi, cá thu nướng, cá đối chiên giòn…, nhưng đệ nhất hạng của biển Khánh Hòa vẫn là cá mú và cách ăn ngon nhất loại cá này là làm một cái lẩu chua cay với bún hoặc cơm.
Cũng có thể gọi một tô bún cá dầm và chả cá thu. Nếu dùng cơm thì món tôm rim với thịt ba rọi xắt lát ăn mãi không thấy no! Thôi thì những ngày nghỉở vùng biển ta cũng cho phép mình ăn nhiều hơn bình thường vậy.
Trong số những quán ăn dọc đường số 1A này, quán Gió có lẽ là khá nhất. Có mặt từ năm 1988, quán Gió dần dà trở thành điểm dừng chân nếm trải món ăn biển khơi cho du khách bốn phương và cả với dân Nha Trang vào dịp cuối tuần, cho dù Nha Trang cũng không thiếu nhà hàng, quán ăn đồ biển tươi ngon. Nguồn hải sản ở quán Gió, theo chủ nhân cho biết, được cung cấp từ đầm Nha Phu.
Cùng với những món kể trên, quán Gió có món cháo hải sản đã “danh bất hư truyền” thứ cháo ngọt lịm và bổ dưỡng vì đầy hàu, tôm, cá, mực tươi. Ngoài quán Gió ở gần chân đèo Rọ Tượng, do kinh doanh phát triển nên gia đình chủ nhân đã mở thêm ba địa chỉ tại Nha Trang và đều lấy tên Gió: một trên đường Trần Phú, nhìn thẳng ra biển, một ở phía bắc và một ở phía nam cầu Trần Phú.
Xem thêm >
Theo Lưu Hương (Báo Doanh Nhân Sàigon)
Du lịch, GO!
Hàng quán nơi đây thường là những nhà sàn được dựng trên mặt nước của đầm nuôi hải sản mà chủ quán cũng là chủ đầm. Quán tuềnh toàng, chỉ là phên liếp che chắn trông khá tạm bợ, cũng chẳng có bản thực đơn cầu kỳ ngoài vài dòng viết tay nguệch ngoạc trên tấm bìa cứng, giới thiệu những thứ đồ biển sẵn có.
Trên bàn ăn thường là bằng gỗ tạp có mấy cái hũ nhựa đựng các loại gia vị, đĩa chanh ớt, lọ nước mắm…Trước khi vào quán, trông những chiếc cột khẳng khiu chống đỡ căn nhà sàn đông thực khách, quả là cũng… ơn ớn, nhưng cảm giác ấy cũng mau chóng tan biến khi các món ăn nóng hổi được dọn ra và lại là những sản vật biển vừa được vớt từ đầm nuôi hay từ biển khơi.
Và đến đây rồi thì thực khách hoàn toàn yên tâm với chất lượng những con cá, mực, tôm… mình ăn. “Tươi rói” là yếu tố đầu tiên mà tất cả những quán ăn ở đây đều đảm bảo, có hơn nhau chăng là ở cách chế biến, nêm nếm gia vị, hoặc thêm một chút về cảnh quan.
Này là những con tôm còn búng tanh tách được chính tay bạn gắp bỏ lên bếp than hồng; chúng cong lại, đỏ ửng lên dưới sức nóng, tỏa mùi thơm… điếc mũi. Lột bỏ lớp vỏ đã cháy sém của con tôm nướng vừa chín tới để lộ ra lớp thịt trắng hồng quyến rũ rồi chấm với chút muối tiêu chanh – không có gì so sánh được với sự ngon lành đó, nhất là khi bạn đang đói ngấu!
Còn một cách thưởng thức món tôm cũng hấp dẫn không kém: hấp với nước dừa tươi vốn rất sẵn ở vùng biển này. Rồi những con mực vừa được câu tối hôm trước đang chờ bạn quyết định sẽ làm món gì: cũng nướng lửa than giản dị, hay hấp gừng hoặc xào chua ngọt với rau củ?
Bạn cũng có thể gọi món rất thông dụng ở vùng biển là mực một nắng nướng. Loại mực chỉ phơi heo héo qua một nắng, nướng lên vẫn còn mềm và chấm với tương ớt tuyệt ngon. Còn với cá thì có nhiều lựa chọn: cá mai để ăn món gỏi, cá thu nướng, cá đối chiên giòn…, nhưng đệ nhất hạng của biển Khánh Hòa vẫn là cá mú và cách ăn ngon nhất loại cá này là làm một cái lẩu chua cay với bún hoặc cơm.
Cũng có thể gọi một tô bún cá dầm và chả cá thu. Nếu dùng cơm thì món tôm rim với thịt ba rọi xắt lát ăn mãi không thấy no! Thôi thì những ngày nghỉở vùng biển ta cũng cho phép mình ăn nhiều hơn bình thường vậy.
Trong số những quán ăn dọc đường số 1A này, quán Gió có lẽ là khá nhất. Có mặt từ năm 1988, quán Gió dần dà trở thành điểm dừng chân nếm trải món ăn biển khơi cho du khách bốn phương và cả với dân Nha Trang vào dịp cuối tuần, cho dù Nha Trang cũng không thiếu nhà hàng, quán ăn đồ biển tươi ngon. Nguồn hải sản ở quán Gió, theo chủ nhân cho biết, được cung cấp từ đầm Nha Phu.
Cùng với những món kể trên, quán Gió có món cháo hải sản đã “danh bất hư truyền” thứ cháo ngọt lịm và bổ dưỡng vì đầy hàu, tôm, cá, mực tươi. Ngoài quán Gió ở gần chân đèo Rọ Tượng, do kinh doanh phát triển nên gia đình chủ nhân đã mở thêm ba địa chỉ tại Nha Trang và đều lấy tên Gió: một trên đường Trần Phú, nhìn thẳng ra biển, một ở phía bắc và một ở phía nam cầu Trần Phú.
Xem thêm >
Theo Lưu Hương (Báo Doanh Nhân Sàigon)
Du lịch, GO!
Tết Lùng Cùng ở Vụ Bản
(Cinet) - Tết Lùng Cùng thường được tổ chức thường niên vào mùng 1 tháng 2 âm lịch tại xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định. Và nói đến Tết Lùng Cùng, người ta không thể quên món bánh khúc, đặc sản làm nên nét riêng khác biệt của ngày Tết đặc biệt này.
Tết Lùng Cùng còn có tên gọi khác là Tết Bánh Khúc hay Tết Vỗ bồ, là dịp lễ truyền thống của nhân dân 3 thôn Thượng, Tâm, Tiền xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định. Tích xưa kể rằng: khi xưa vùng đất này thuộc trấn Sơn Nam Hạ, sinh ra một vị tướng danh tiếng, tài giỏi, cả cuộc đời hiến dâng cho sự nghiệp bảo vệ bờ cõi dân tộc. Có một năm ông và quân sĩ không thể về ăn Tết cùng gia đình vì phải lo đánh dẹp giặc ngoại bang.
Đầu tháng 2 (âm lịch) năm đó, đội quân do ông làm thủ lĩnh đã giành chiến thắng, ông quyết định tổ chức ăn mừng. Song vì đánh giặc dài ngày, lương thảo dự trữ không còn nhiều, ông đã nghĩ ra cách giã rau khúc để trộn thêm với gạo nếp làm thành chiếc bánh khúc để tế cáo trời đất, sau đó phát cho quân sĩ và nhân dân nơi đây.
Thời gian trôi qua, cho đến nay, Tết Lùng Cùng vẫn được tổ chức để tri ân công đức tổ tiên và là ngày cả gia đình sum họp. Trong ngày này, món bánh khúc thay thể cho bánh chưng, bánh dày trong Tết âm lịch để dâng lên tổ tiên.
Rau khúc là một loài rau dại, mọc nhiều vào mùa xuân nhất là từ đầu tháng 2 âm lịch tới Tết thanh minh. Rau khúc có hai loại là khúc tẻ và khúc nếp. Nhưng để làm bánh khúc thì nhất thiết phải chọn được lá khúc nếp để bánh thơm ngon và có vị đặc trưng. Rau hái từ ruộng về phải chế biến ngay. Gạo tẻ và nếp phải được ngâm từ đêm hôm trước, cứ hai phần gạo nếp lại cho thêm một phần gạo tẻ. Nguyên liệu làm bánh khúc chỉ gồm: gạo, đỗ xanh, thịt lợn cộng với gia vị.
Rau khúc đã nhuyễn được đem trộn lẫn với bột gạo, sau đó đem nặn thành bánh khúc. Nhân bánh là đỗ xanh giã mịn và một miếng nhỏ mỡ lợn đã được xào thơm với hành. Thịt mỡ phải là thịt mỡ gáy để bánh ăn vừa đủ ngậy mà không bị ngán. Đặc biệt có một loại gia vị không thể thiếu khi làm bánh khúc dịp Tết Lùng Cùng, đó là hạt tiêu. Hương hạt tiêu đậm đà quyện với vị rau khúc độc đáo tạo thành vị ngon riêng biệt của bánh khúc nơi đây.
Bánh mới nặn xong lớp vỏ còn dẻo dính sẽ được lăn qua một lớp gạo nếp đã được ngâm kỹ, thường gọi là áo bánh; sau đó gói hờ vào tấm lá chuối tươi rồi xếp chồng lên nhau, đem đi đồ trong chõ xôi. Bánh khúc ngon nhất khi ăn nóng và có thể để đến hai ngày mà vỏ bánh vẫn mềm, dẻo dai.
Hằng năm, cứ vào Tết Lùng Cùng, người dân xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định dù có đi làm nơi đâu cũng hướng vê quê nhà, cũng nhớ tới hương vị đặc trưng của món bánh khúc như để tri ân với tổ tiên và tự nhắc mình không quên cội nguồn.
Đã từ lâu lắm, Tết Lùng Cùng đã tồn tại trong tâm thức mỗi người dân Vụ Bản, tạo thành nét đẹp văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng quê Nam Định.
Xem thêm >
Theo chuyên trang lễ hội Cinet
Du lịch, GO!
Tết Lùng Cùng còn có tên gọi khác là Tết Bánh Khúc hay Tết Vỗ bồ, là dịp lễ truyền thống của nhân dân 3 thôn Thượng, Tâm, Tiền xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định. Tích xưa kể rằng: khi xưa vùng đất này thuộc trấn Sơn Nam Hạ, sinh ra một vị tướng danh tiếng, tài giỏi, cả cuộc đời hiến dâng cho sự nghiệp bảo vệ bờ cõi dân tộc. Có một năm ông và quân sĩ không thể về ăn Tết cùng gia đình vì phải lo đánh dẹp giặc ngoại bang.
Đầu tháng 2 (âm lịch) năm đó, đội quân do ông làm thủ lĩnh đã giành chiến thắng, ông quyết định tổ chức ăn mừng. Song vì đánh giặc dài ngày, lương thảo dự trữ không còn nhiều, ông đã nghĩ ra cách giã rau khúc để trộn thêm với gạo nếp làm thành chiếc bánh khúc để tế cáo trời đất, sau đó phát cho quân sĩ và nhân dân nơi đây.
Thời gian trôi qua, cho đến nay, Tết Lùng Cùng vẫn được tổ chức để tri ân công đức tổ tiên và là ngày cả gia đình sum họp. Trong ngày này, món bánh khúc thay thể cho bánh chưng, bánh dày trong Tết âm lịch để dâng lên tổ tiên.Rau khúc là một loài rau dại, mọc nhiều vào mùa xuân nhất là từ đầu tháng 2 âm lịch tới Tết thanh minh. Rau khúc có hai loại là khúc tẻ và khúc nếp. Nhưng để làm bánh khúc thì nhất thiết phải chọn được lá khúc nếp để bánh thơm ngon và có vị đặc trưng. Rau hái từ ruộng về phải chế biến ngay. Gạo tẻ và nếp phải được ngâm từ đêm hôm trước, cứ hai phần gạo nếp lại cho thêm một phần gạo tẻ. Nguyên liệu làm bánh khúc chỉ gồm: gạo, đỗ xanh, thịt lợn cộng với gia vị.
Rau khúc đã nhuyễn được đem trộn lẫn với bột gạo, sau đó đem nặn thành bánh khúc. Nhân bánh là đỗ xanh giã mịn và một miếng nhỏ mỡ lợn đã được xào thơm với hành. Thịt mỡ phải là thịt mỡ gáy để bánh ăn vừa đủ ngậy mà không bị ngán. Đặc biệt có một loại gia vị không thể thiếu khi làm bánh khúc dịp Tết Lùng Cùng, đó là hạt tiêu. Hương hạt tiêu đậm đà quyện với vị rau khúc độc đáo tạo thành vị ngon riêng biệt của bánh khúc nơi đây.
Bánh mới nặn xong lớp vỏ còn dẻo dính sẽ được lăn qua một lớp gạo nếp đã được ngâm kỹ, thường gọi là áo bánh; sau đó gói hờ vào tấm lá chuối tươi rồi xếp chồng lên nhau, đem đi đồ trong chõ xôi. Bánh khúc ngon nhất khi ăn nóng và có thể để đến hai ngày mà vỏ bánh vẫn mềm, dẻo dai.
Hằng năm, cứ vào Tết Lùng Cùng, người dân xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định dù có đi làm nơi đâu cũng hướng vê quê nhà, cũng nhớ tới hương vị đặc trưng của món bánh khúc như để tri ân với tổ tiên và tự nhắc mình không quên cội nguồn.
Đã từ lâu lắm, Tết Lùng Cùng đã tồn tại trong tâm thức mỗi người dân Vụ Bản, tạo thành nét đẹp văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng quê Nam Định.
Xem thêm >
Theo chuyên trang lễ hội Cinet
Du lịch, GO!
Về Hội An ăn chén 'xíu mà'.
Thăm phố cổ Hội An (Quảng Nam), bên cạnh những món ăn truyền thống của người xứ Quảng mà ta có thể thưởng thức thì vẫn còn có khá nhiều món ăn được du nhập từ những thế kỷ trước. Xíu mà là một trong những món ăn tiêu biểu được nhiều cư dân và du khách ưa thích nhất tại đây.
< Chén xíu mà thơm phức.
Xíu Mà là món chè có nguồn gốc từ Trung Quốc, đây là món ăn có tác dụng như một bài thuốc chữa các bệnh về tiêu hóa, suy nhược cơ thể, giải nhiệt, chống cảm nắng…
< Xíu mà chỉ bán đơn giản ở các gánh hàng rong.
Xíu Mà hay còn gọi là 'Chí mà phủ' được làm rất công phu từ bột gạo nếp hương, nhân dừa xay nhuyễn, vừng đen (mè), đậu xanh, đường tinh luyện và thanh địa thuốc bắc.
Riêng mè đen thì được ngâm trước 2 - 3 tiếng. Sau đó xay nhuyễn rồi hầm nhừ cùng với các phụ liệu như sanh địa, thục địa và các loại rau mã đề, bồ ngót… tạo thành một thứ nước sền sệt, đen tuyền, sóng sánh và có vị hơi ngọt, thơm. Để có nồi chè gánh đi bán mỗi ngày, người bán phải thức dậy từ 3 giờ sáng bền bỉ và đều đặn.
< Nồi xíu mà bốc khói nghi ngút nằm một bên quang gánh.
Một nét đặc biệt ở Hội An là dù khá đông khách nhưng người gánh bán vẫn rất khoan thai, chậm rãi múc từng muỗng chè vào cái chén nhỏ hay túi nilông. Còn người mua cũng nhẫn nại chờ đến lượt mình.
Có lẽ bởi cái lý do rất hợp lý mà người bán chè vẫn hay nói đùa “Xíu Mà là đợi xíu mà đó”.
< Mời bạn thưởng thức chén xíu mà...
Đưa từng muỗng xíu mà nóng hổi vào miệng, cảm nhận được mùi vị thơm và béo của mè cùng hương thơm khó tả của các loại lá cây và dược liệu lan toả. Khi chạm vào đầu lưỡi có cảm giác mịn ngọt, dìu dịu...
Nhẹ nhàng, không ồn ào, vội vã, đó có lẽ cũng là cách thưởng thức Xíu Mà Hội An - món ăn sẽ làm chuyến thăm phố Hội của du khách thêm phần ý nghĩa. Vậy nên du khách đến Hội An nếu chưa thưởng thức món 'xíu mà phố cổ' sẽ là một thiếu sót bởi không có nơi mô có được cái vị đặc biệt giữa khung cảnh nơi đây.
< Cụ già bán Xíu mà Hội An - cái biệt danh quen thuộc mọi người đặt cho ông lão. Đấy là cụ Ngô Thiểu (ngoài 90 tuổi), cụ nổi tiếng làm Xíu Mà ở phố cổ này. Ngày nay, tuy không gánh hàng đi rao bán như xưa mà chỉ ngồi một chỗ cố định nhưng người dân đến ăn và mua về.
Xíu Mà là món ăn có nguồn gốc từ Phúc Kiến (Trung Quốc), du nhập vào Hội An (Quảng Nam) trong những năm đầu của thế kỷ trước, khi những người Hoa đến buôn bán kinh doanh. Xíu Mà được làm rất công phu từ bột gạo nếp hương, nhân dừa xay nhuyễn, vừng (mè), đậu xanh, đường tinh luyện và thanh địa thuốc bắc. Khi nấu chín, Xíu Mà có màu đen sánh, mùi thơm lan tỏa.
Du lịch, GO!, ảnh internet
< Chén xíu mà thơm phức.
Xíu Mà là món chè có nguồn gốc từ Trung Quốc, đây là món ăn có tác dụng như một bài thuốc chữa các bệnh về tiêu hóa, suy nhược cơ thể, giải nhiệt, chống cảm nắng…
< Xíu mà chỉ bán đơn giản ở các gánh hàng rong.
Xíu Mà hay còn gọi là 'Chí mà phủ' được làm rất công phu từ bột gạo nếp hương, nhân dừa xay nhuyễn, vừng đen (mè), đậu xanh, đường tinh luyện và thanh địa thuốc bắc.
Riêng mè đen thì được ngâm trước 2 - 3 tiếng. Sau đó xay nhuyễn rồi hầm nhừ cùng với các phụ liệu như sanh địa, thục địa và các loại rau mã đề, bồ ngót… tạo thành một thứ nước sền sệt, đen tuyền, sóng sánh và có vị hơi ngọt, thơm. Để có nồi chè gánh đi bán mỗi ngày, người bán phải thức dậy từ 3 giờ sáng bền bỉ và đều đặn.
< Nồi xíu mà bốc khói nghi ngút nằm một bên quang gánh.
Một nét đặc biệt ở Hội An là dù khá đông khách nhưng người gánh bán vẫn rất khoan thai, chậm rãi múc từng muỗng chè vào cái chén nhỏ hay túi nilông. Còn người mua cũng nhẫn nại chờ đến lượt mình.
Có lẽ bởi cái lý do rất hợp lý mà người bán chè vẫn hay nói đùa “Xíu Mà là đợi xíu mà đó”.
< Mời bạn thưởng thức chén xíu mà...
Đưa từng muỗng xíu mà nóng hổi vào miệng, cảm nhận được mùi vị thơm và béo của mè cùng hương thơm khó tả của các loại lá cây và dược liệu lan toả. Khi chạm vào đầu lưỡi có cảm giác mịn ngọt, dìu dịu...
Nhẹ nhàng, không ồn ào, vội vã, đó có lẽ cũng là cách thưởng thức Xíu Mà Hội An - món ăn sẽ làm chuyến thăm phố Hội của du khách thêm phần ý nghĩa. Vậy nên du khách đến Hội An nếu chưa thưởng thức món 'xíu mà phố cổ' sẽ là một thiếu sót bởi không có nơi mô có được cái vị đặc biệt giữa khung cảnh nơi đây.
< Cụ già bán Xíu mà Hội An - cái biệt danh quen thuộc mọi người đặt cho ông lão. Đấy là cụ Ngô Thiểu (ngoài 90 tuổi), cụ nổi tiếng làm Xíu Mà ở phố cổ này. Ngày nay, tuy không gánh hàng đi rao bán như xưa mà chỉ ngồi một chỗ cố định nhưng người dân đến ăn và mua về.
Xíu Mà là món ăn có nguồn gốc từ Phúc Kiến (Trung Quốc), du nhập vào Hội An (Quảng Nam) trong những năm đầu của thế kỷ trước, khi những người Hoa đến buôn bán kinh doanh. Xíu Mà được làm rất công phu từ bột gạo nếp hương, nhân dừa xay nhuyễn, vừng (mè), đậu xanh, đường tinh luyện và thanh địa thuốc bắc. Khi nấu chín, Xíu Mà có màu đen sánh, mùi thơm lan tỏa.
Du lịch, GO!, ảnh internet
Phượt ẩm thực xứ Gò
(SGTT.VN) - Em Gò Công một phần giống em Pleiku - có nắng có gió, phần tựa em xứ Quảng - có biển có sông. Nổi hơn cả lại là nguồn hải sản nước lợ phủ phê và nụ cười đôn hậu. Không ít người bạn than vãn rằng, về quê bà Từ Dũ không biết tìm ăn ngon ở đâu. Đúng là mấy kẻ "đơn giản đến thanh thản".
Sản vật vùng này phong phú. Bởi là nơi hợp lưu của nhiều nhánh sông, cửa biển: Vàm Cỏ Đông, Xoài Rạp, cửa Tiểu..., nên cá tôm thích bám trụ cũng để… thưởng thức ẩm thực. Các chuyên gia hải sản trong nước cũng như một số người sành ăn, kiến thức rộng quả quyết: chính chất lượng hệ phiêu sinh nước lợ (nước xà hai) đã làm cho hải sản thơm ngọt lạ.
Lộng lẫy “miss” nghêu Nam bộ
Đơn cử với con nghêu. Đem luộc thôi, kèm 1 - 2 trái ớt hiểm giã giập khử tanh, mới 5 - 7 phút sau đã nghe thơm lừng mùi sữa bắp nếp. Vài đồng nghiệp biết ăn, nghe vậy vội mạnh miệng phản bác: “Dóc tổ”! Thế nhưng, có dịp về bãi biển Tân Thành tác nghiệp - cách thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang khoảng 15 Km, nếm thịt nghêu tơ, có người buộc miệng khen: “Ồ! Đáng nể thật!”
Thịt nó giòn lẫn ngọt đậm, mập ú, lưỡi trắng phau. Cắn vào 5 - 7 con đủ say cái ngon! Nếu bạn gặp những con mình hơi ửng hồng (nhạt hơn sò lông) thì càng tuyệt. Bởi chúng đang ôm trứng, thêm vị bùi bùi. Nhiều người thích chấm với nước mắm chua ngọt. Song tôi khoái chấm cùng muối tiêu “bà đẻ” (phải nướng cho tiêu thơm sực nức và muối cháy vàng - hết mùi tanh), trộn ít ớt bằm ngâm giấm, vắt nửa trái tắc hườm hoặc miếng chanh giấy mọng nước, thoảng mùi vị chua thanh đủ làm khổ sở mấy kèn công phồng má thổi kèn!
Mùa nghêu mập ở đây kéo dài từ sau tết Nguyên Đán đến đầu mùa mưa. Con nào nổi gân hình vòng cung càng rõ trên vỏ thì thịt càng đầy, theo “mụ nghêu” Trần Văn Vinh ở ấp Cầu Muống, xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Từ năm 2000, nghêu nơi này đã đủ chuẩn xuất sang châu Âu. Trong khi nghêu Bến Tre, Cần Giờ còn chờ xét duyệt về chất lượng. Và nhiều cái lưỡi tinh tế khu vực Nam bộ bình chọn về “thánh địa” nghêu ngon thổn thức như sau: nhất Gò Công, nhì Bến Tre, ba Cần Giờ.
Luộc nghêu hàng cao thủ là không cho nước vào và canh nó vừa hé miệng (nở búp) thôi. Nếu để quá lửa, nó hả toét miệng, thịt teo bớt, dai hơn và mất ngọt. Bù lại, bạn lắng nước luộc đem nấu tô canh rau tập tàng, sẽ ngọt thơm gấp bội. Nước canh đục màu sữa tươi, thoang thoảng hương vị rong rêu tinh sạch. Rắc vào ít tiêu sọ giã lúc tắt lửa, khi khói canh đang lững lờ thì mộng bỏ… dưới hoa về chui vào tô canh!
Tuy vậy, nghêu đại (loại gần bằng chén nước chấm) như gái nạ dòng - thịt lạt, dai. Lý tưởng nhất là, chọn cỡ 45 - 50 con/kg. Tách ra, nấu món hầm nghệ theo kiểu triều Nguyễn (báo SGTT đã đăng). Mới húp muỗng nước thôi, đã thống sướng vô cùng!
Cần lưu ý thêm về các từ: nghêu “nguội” với “nóng”, do dân địa phương thường gọi. Cả hai dạng này ăn đều dở. Do nước thủy triều có ngày không cạn sát nên ngư dân cào bắt nghêu chưa được. Những ngày đó, tiểu thương vẫn trữ nghêu cũ để bán cho du khách; hay vì họ bán ế vài hôm, khiến rổ nghêu ốm hẳn (nguội). Hoặc gặp nghêu mới lên (nóng), miệng còn ngậm ít cát, ăn vào dễ bất mãn.
Và ước tính, tổng diện tích bãi nghêu Tân Thành rộng khoảng 1.800ha, năng suất trung bình khoảng 7.000 - 10.050 tấn/năm, thông tin từ phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Nếu suông sẻ, phải mất ba năm ròng, một trứng nghêu cám bằng hạt cát mới lớn thành con nghêu thịt.
Có một chỗ thường bán nghêu ngon, giá vừa phải là quán chị Tẻ bến đò, thuộc ấp Mỹ Xuân, xã Tân Trung, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Nơi đây, cách bến đò Mỹ Lợi khoảng 4 - 5km, theo trục quốc lộ 50 chạy về chợ Gò Công, rẽ trái vào bờ đê, sát nách con sông Vàm Cỏ. So ra, gần hơn đi bãi biển Tân Thành khoảng 20km, tính từ hướng TP.HCM xuống.
“Ngư khôi” dứa, úc...
Nhờ ở cạnh bến đò Mỹ Điền, chốn giao thương “quà sông, biển” từ ba phía: Long Hựu, Cần Đước (Long An), Cần Giờ và Gò Công Đông, cho nên chị Tẻ có dịp mua tận gốc nhiều hải sản do ngư dân giăng lưới, đi ghe cào, móc (cua)... bắt được.
“Cá còn lội. Tôm còn búng. Cua còn kẹp. Bạch tuộc còn đeo và nhiều con còn... nhúc nhích”! Ông Nguyễn Văn Ra, nguyên trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang đã tặng cho quán câu slogan này. Mặc dù, chủ quán không hề thuê người kẻ bảng, treo những dòng chữ ấn tượng ấy. Thế nhưng, không ít người thuộc khu vực phía Đông Gò Công, đã tự để bụng.
Thỉnh thoảng có cá chìa vôi nặng 10kg/con, cá sửu cỡ 11 - 12kg/con, cá dứa 18kg/con còn bơi lúc lắc..., chị Tẻ bật cái “a lô” báo tin, chừng mười phút sau đã cò vài ba chiếc xe hơi hoặc chục xe tay ga chạy tới “chia cá hiếm”. Điểm đặc biệt của quán là không có thực đơn. Chị Tẻ ngưng vớt tôm càng giải thích: “Nguyên liệu của quán tùy theo con nước (kém hoặc rong), theo mùa nên thực đơn tốt nhất là tùy cơ ứng biến.”
Anh Tám Nhịn, ở ấp Muôn Nghiệp, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, chủ cơ sở mắm Hoàng Đệ cũng là khách mối ở đây. Dụi điếu thuốc, anh Tám cười hề hề nói: “Mình thích con gì, khúc bụng hay đầu hoặc đuôi, cứ chỉ ngay - họ đều vui vẻ đáp ứng. Bữa nào túi rủng rỉnh tiền thì ăn nguyên ký. Còn lép hơn, tui “chơi” nửa ký. “Hẻo” nữa thì vài trăm - gà - ram tôm càng, tôm đất. Thậm chí kẹt “đạn”, ký sổ chủ quán vẫn không “mặt lớn mặt nhỏ” như mấy chỗ khác”.
Hôm chúng tôi ghé lại, chọn một khứa bụng con cá dứa đã nặng gần cả ký, thả vào nồi cháo với ít nấm rơm bềnh bồng. Khứa cá nằm chật cả dĩa nước mắm y. Mới nhìn thôi đã bị hớp hồn! Trưa hè yên ắng, nghe rõ tiếng gió sông khua xào xạc trên mấy tàu dừa nước (dừa lá). Cũng có những cơn gió tinh nghịch chạy lon ton vào tận chòi lá, vuốt ve mặt mũi thực khách nghe mát rượi.
Vẫn không bằng hương vị thịt cá dứa tươi ngọt đậm, béo thanh, săn chắc hết chỗ chê. Nâng ly rượu “xây chừng”, nghe anh Tám kể về những mảnh đời sông, vừa thú vị vừa bùi ngùi làm sao. Tốn “trọn gói” 350.000 đồng cho món cháo nhớ đời, cùng bốn người bạn vong niên no cành hông, thêm một bữa hả hê trải lòng!
Còn nhiều con đang lượn lờ hoặc rục rịch, đáng để bạn cất công lặn lội - làm một chuyến điền dã về đây. Mùa này, đang rộ cá úc vàng (úc sào) bụng phệ, cỡ 700g - 1kg/con. Thịt cá ngọt bùi, béo thơm. Đem nấu lẩu bột trái bần chín (bẻ ngay cạnh bãi sau của quán) hoặc nướng muối ớt - gói kín trong miếng lá chuối non - đều ngon “nhức răng”!
Tuy nhiên, ngư dân khu này thường giăng lưới cá úc theo con nước kém, được 8 ngày trong tháng, từ ngày 11 - 17 và 22 - 26 âm lịch. Đừng quên những con vọp ruột căng múp. Nướng mỡ hành, ngọt thơm ngất trời!
Mới hơn là loại ốc cau, cỡ đầu ngón tay cái người lớn, được đánh bắt bằng cách thả “rập đuôi chuột” xuống đáy sông, giống cách ngư dân miền Trung bẫy ghẹ.
Vỏ nó nổi màu xanh non của tàu cau ta, giữa thân bầu bầu hơi giống con chim ốc cao. Phần thịt lưỡi giòn ngọt na ná ốc hương nhưng không thơm bằng, còn đoạn bụng béo bùi. Đem xào với ít nước cốt dừa, búng vào dăm ba lát ớt sừng trâu, trải tiếp một lớp thảm rau răm non mướt hoặc hấp cùng nhiều củ sả tươi đập giập hay xào tỏi đều để thèm về sau. Lể mỏi tay, mất 60.000 - 70.000 đồng/kg. Khỏi nhức đầu về chuyện... đổ vỏ.
Được biết, khoảng hai năm trước đám ốc này có mặt ở biển Cần Giờ. Nay chúng chu du tới sông sông Xoài Rạp (mé Gò Công Đông) và Vàm Cỏ. Ngoài ra, một số nhân viên của quán còn có tài ca cổ thật “lảnh lót” (thánh thót). Có nàng mạnh miệng thách đố: “Hễ anh nào song ca bài “Chuyện tình Lan và Điệp” cùng em nghe “muồi” rụng... rún. Em bắt rễ liền!”
Bên cạnh đó, cũng có hai loại đặc sản Gò Công dần tuyệt tích. Đó là trái sơ ri chua, khi chín hườm “cơm” rất giòn ngọt và thơm đặc trưng. Cùng dưa hấu bãi bồi Tân Thành, dạng tròn vỏ xanh đen (dưa An Tiêm) hoặc sọc xanh viền trắng có thể nặng đến 5 - 7kg/trái. Ruột dưa đỏ tươi, ngọt lịm.
Xem thêm >
Theo Tấn Tới (SGTT.media)
Du lịch, GO
Sản vật vùng này phong phú. Bởi là nơi hợp lưu của nhiều nhánh sông, cửa biển: Vàm Cỏ Đông, Xoài Rạp, cửa Tiểu..., nên cá tôm thích bám trụ cũng để… thưởng thức ẩm thực. Các chuyên gia hải sản trong nước cũng như một số người sành ăn, kiến thức rộng quả quyết: chính chất lượng hệ phiêu sinh nước lợ (nước xà hai) đã làm cho hải sản thơm ngọt lạ.
Lộng lẫy “miss” nghêu Nam bộ
Đơn cử với con nghêu. Đem luộc thôi, kèm 1 - 2 trái ớt hiểm giã giập khử tanh, mới 5 - 7 phút sau đã nghe thơm lừng mùi sữa bắp nếp. Vài đồng nghiệp biết ăn, nghe vậy vội mạnh miệng phản bác: “Dóc tổ”! Thế nhưng, có dịp về bãi biển Tân Thành tác nghiệp - cách thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang khoảng 15 Km, nếm thịt nghêu tơ, có người buộc miệng khen: “Ồ! Đáng nể thật!”
Thịt nó giòn lẫn ngọt đậm, mập ú, lưỡi trắng phau. Cắn vào 5 - 7 con đủ say cái ngon! Nếu bạn gặp những con mình hơi ửng hồng (nhạt hơn sò lông) thì càng tuyệt. Bởi chúng đang ôm trứng, thêm vị bùi bùi. Nhiều người thích chấm với nước mắm chua ngọt. Song tôi khoái chấm cùng muối tiêu “bà đẻ” (phải nướng cho tiêu thơm sực nức và muối cháy vàng - hết mùi tanh), trộn ít ớt bằm ngâm giấm, vắt nửa trái tắc hườm hoặc miếng chanh giấy mọng nước, thoảng mùi vị chua thanh đủ làm khổ sở mấy kèn công phồng má thổi kèn!
Mùa nghêu mập ở đây kéo dài từ sau tết Nguyên Đán đến đầu mùa mưa. Con nào nổi gân hình vòng cung càng rõ trên vỏ thì thịt càng đầy, theo “mụ nghêu” Trần Văn Vinh ở ấp Cầu Muống, xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Từ năm 2000, nghêu nơi này đã đủ chuẩn xuất sang châu Âu. Trong khi nghêu Bến Tre, Cần Giờ còn chờ xét duyệt về chất lượng. Và nhiều cái lưỡi tinh tế khu vực Nam bộ bình chọn về “thánh địa” nghêu ngon thổn thức như sau: nhất Gò Công, nhì Bến Tre, ba Cần Giờ.
Luộc nghêu hàng cao thủ là không cho nước vào và canh nó vừa hé miệng (nở búp) thôi. Nếu để quá lửa, nó hả toét miệng, thịt teo bớt, dai hơn và mất ngọt. Bù lại, bạn lắng nước luộc đem nấu tô canh rau tập tàng, sẽ ngọt thơm gấp bội. Nước canh đục màu sữa tươi, thoang thoảng hương vị rong rêu tinh sạch. Rắc vào ít tiêu sọ giã lúc tắt lửa, khi khói canh đang lững lờ thì mộng bỏ… dưới hoa về chui vào tô canh!
Tuy vậy, nghêu đại (loại gần bằng chén nước chấm) như gái nạ dòng - thịt lạt, dai. Lý tưởng nhất là, chọn cỡ 45 - 50 con/kg. Tách ra, nấu món hầm nghệ theo kiểu triều Nguyễn (báo SGTT đã đăng). Mới húp muỗng nước thôi, đã thống sướng vô cùng!
Cần lưu ý thêm về các từ: nghêu “nguội” với “nóng”, do dân địa phương thường gọi. Cả hai dạng này ăn đều dở. Do nước thủy triều có ngày không cạn sát nên ngư dân cào bắt nghêu chưa được. Những ngày đó, tiểu thương vẫn trữ nghêu cũ để bán cho du khách; hay vì họ bán ế vài hôm, khiến rổ nghêu ốm hẳn (nguội). Hoặc gặp nghêu mới lên (nóng), miệng còn ngậm ít cát, ăn vào dễ bất mãn.
Và ước tính, tổng diện tích bãi nghêu Tân Thành rộng khoảng 1.800ha, năng suất trung bình khoảng 7.000 - 10.050 tấn/năm, thông tin từ phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Nếu suông sẻ, phải mất ba năm ròng, một trứng nghêu cám bằng hạt cát mới lớn thành con nghêu thịt.
Có một chỗ thường bán nghêu ngon, giá vừa phải là quán chị Tẻ bến đò, thuộc ấp Mỹ Xuân, xã Tân Trung, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Nơi đây, cách bến đò Mỹ Lợi khoảng 4 - 5km, theo trục quốc lộ 50 chạy về chợ Gò Công, rẽ trái vào bờ đê, sát nách con sông Vàm Cỏ. So ra, gần hơn đi bãi biển Tân Thành khoảng 20km, tính từ hướng TP.HCM xuống.
“Ngư khôi” dứa, úc...
Nhờ ở cạnh bến đò Mỹ Điền, chốn giao thương “quà sông, biển” từ ba phía: Long Hựu, Cần Đước (Long An), Cần Giờ và Gò Công Đông, cho nên chị Tẻ có dịp mua tận gốc nhiều hải sản do ngư dân giăng lưới, đi ghe cào, móc (cua)... bắt được.
“Cá còn lội. Tôm còn búng. Cua còn kẹp. Bạch tuộc còn đeo và nhiều con còn... nhúc nhích”! Ông Nguyễn Văn Ra, nguyên trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang đã tặng cho quán câu slogan này. Mặc dù, chủ quán không hề thuê người kẻ bảng, treo những dòng chữ ấn tượng ấy. Thế nhưng, không ít người thuộc khu vực phía Đông Gò Công, đã tự để bụng.
Thỉnh thoảng có cá chìa vôi nặng 10kg/con, cá sửu cỡ 11 - 12kg/con, cá dứa 18kg/con còn bơi lúc lắc..., chị Tẻ bật cái “a lô” báo tin, chừng mười phút sau đã cò vài ba chiếc xe hơi hoặc chục xe tay ga chạy tới “chia cá hiếm”. Điểm đặc biệt của quán là không có thực đơn. Chị Tẻ ngưng vớt tôm càng giải thích: “Nguyên liệu của quán tùy theo con nước (kém hoặc rong), theo mùa nên thực đơn tốt nhất là tùy cơ ứng biến.”
Anh Tám Nhịn, ở ấp Muôn Nghiệp, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, chủ cơ sở mắm Hoàng Đệ cũng là khách mối ở đây. Dụi điếu thuốc, anh Tám cười hề hề nói: “Mình thích con gì, khúc bụng hay đầu hoặc đuôi, cứ chỉ ngay - họ đều vui vẻ đáp ứng. Bữa nào túi rủng rỉnh tiền thì ăn nguyên ký. Còn lép hơn, tui “chơi” nửa ký. “Hẻo” nữa thì vài trăm - gà - ram tôm càng, tôm đất. Thậm chí kẹt “đạn”, ký sổ chủ quán vẫn không “mặt lớn mặt nhỏ” như mấy chỗ khác”.
Hôm chúng tôi ghé lại, chọn một khứa bụng con cá dứa đã nặng gần cả ký, thả vào nồi cháo với ít nấm rơm bềnh bồng. Khứa cá nằm chật cả dĩa nước mắm y. Mới nhìn thôi đã bị hớp hồn! Trưa hè yên ắng, nghe rõ tiếng gió sông khua xào xạc trên mấy tàu dừa nước (dừa lá). Cũng có những cơn gió tinh nghịch chạy lon ton vào tận chòi lá, vuốt ve mặt mũi thực khách nghe mát rượi.
Vẫn không bằng hương vị thịt cá dứa tươi ngọt đậm, béo thanh, săn chắc hết chỗ chê. Nâng ly rượu “xây chừng”, nghe anh Tám kể về những mảnh đời sông, vừa thú vị vừa bùi ngùi làm sao. Tốn “trọn gói” 350.000 đồng cho món cháo nhớ đời, cùng bốn người bạn vong niên no cành hông, thêm một bữa hả hê trải lòng!
Còn nhiều con đang lượn lờ hoặc rục rịch, đáng để bạn cất công lặn lội - làm một chuyến điền dã về đây. Mùa này, đang rộ cá úc vàng (úc sào) bụng phệ, cỡ 700g - 1kg/con. Thịt cá ngọt bùi, béo thơm. Đem nấu lẩu bột trái bần chín (bẻ ngay cạnh bãi sau của quán) hoặc nướng muối ớt - gói kín trong miếng lá chuối non - đều ngon “nhức răng”!
Tuy nhiên, ngư dân khu này thường giăng lưới cá úc theo con nước kém, được 8 ngày trong tháng, từ ngày 11 - 17 và 22 - 26 âm lịch. Đừng quên những con vọp ruột căng múp. Nướng mỡ hành, ngọt thơm ngất trời!
Mới hơn là loại ốc cau, cỡ đầu ngón tay cái người lớn, được đánh bắt bằng cách thả “rập đuôi chuột” xuống đáy sông, giống cách ngư dân miền Trung bẫy ghẹ.
Vỏ nó nổi màu xanh non của tàu cau ta, giữa thân bầu bầu hơi giống con chim ốc cao. Phần thịt lưỡi giòn ngọt na ná ốc hương nhưng không thơm bằng, còn đoạn bụng béo bùi. Đem xào với ít nước cốt dừa, búng vào dăm ba lát ớt sừng trâu, trải tiếp một lớp thảm rau răm non mướt hoặc hấp cùng nhiều củ sả tươi đập giập hay xào tỏi đều để thèm về sau. Lể mỏi tay, mất 60.000 - 70.000 đồng/kg. Khỏi nhức đầu về chuyện... đổ vỏ.
Được biết, khoảng hai năm trước đám ốc này có mặt ở biển Cần Giờ. Nay chúng chu du tới sông sông Xoài Rạp (mé Gò Công Đông) và Vàm Cỏ. Ngoài ra, một số nhân viên của quán còn có tài ca cổ thật “lảnh lót” (thánh thót). Có nàng mạnh miệng thách đố: “Hễ anh nào song ca bài “Chuyện tình Lan và Điệp” cùng em nghe “muồi” rụng... rún. Em bắt rễ liền!”
Bên cạnh đó, cũng có hai loại đặc sản Gò Công dần tuyệt tích. Đó là trái sơ ri chua, khi chín hườm “cơm” rất giòn ngọt và thơm đặc trưng. Cùng dưa hấu bãi bồi Tân Thành, dạng tròn vỏ xanh đen (dưa An Tiêm) hoặc sọc xanh viền trắng có thể nặng đến 5 - 7kg/trái. Ruột dưa đỏ tươi, ngọt lịm.
Xem thêm >
Theo Tấn Tới (SGTT.media)
Du lịch, GO
Popular Posts
-
H à Giang có rất nhiều chợ: chợ Phố Cáo, chợ Phó Bảng, chợ Sủng Là, chợ Lũng Phìn, chợ Ma Lé, chợ Đồng Văn, chợ Mèo Vạc, chợ Sà Phìn… Đa phầ...
-
C hùa Vạn Đức tọa lạc số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh). Chùa do HT.Thích Trí Tịnh, đời thứ 41 dòng t...
-
(Metinfo) - A i cũng biết khổ qua nguyên trái hầm thịt nạc bằm hoặc cá thác lác quết nước muối, khổ qua xắt lát xào thịt bò , khổ qua xắt lá...
-
(QN online) - C ùng với za’ră (thịt thọc ống), aví cuốt (bánh sừng trâu), ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc n...
-
G iữa nhịp sống hối hả và ồn ào của TP. Hồ Chí Minh, nếu bạn bước chân vào nơi rợp bóng cây, lộng gió và nghe tiếng chim hót sẽ là một niềm ...
-
(iHay) - T hị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên nằm giữa 2 thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và Tuy Hòa (Phú Yên). Có lẽ do nằm trong “vùng trũng” g...
-
(CTTĐTTTH) - A n Định Cung không chỉ nổi tiếng là một công trình đẹp của cung đình Huế mà nó còn là nơi chứng kiến nhiều nỗi thăng trầm của ...
-
(Daidoanket) - N gược dòng Long Đại, con thuyền đưa chúng tôi đi ngang qua các thôn, bản với những tên gọi dân gian như Ổ Gà, Lùi, Cập, Chuố...
-
A n Giang là tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam với một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên. Đây là tỉnh có dân số đông n...
-
K hu tưởng niệm các vua Hùng là một công trình thuộc khu Cổ Đại của dự án Công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc. Khu tưởng niệm tọa lạc trên ...



.jpg)








.jpg)














.jpg)










