Home » Posts filed under Làng nghề
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Đến Quảng Ngãi ăn don sông Trà
(Báo Vĩnh Long) - Dọc theo Quốc lộ 1A, ngang qua thị trấn Châu Ổ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, người đi đường dễ dàng bắt gặp rất nhiều quán nhỏ ven đường có bảng “don”. Thử một lần dừng chân ghé quán, chắc hẳn thực khách không thể nào quên được cái vị ngọt dịu, thanh mát từ những con don bé xíu nơi hạ nguồn sông Trà.
< Don là món ăn dân dã, đậm đà phong vị quê hương, ngon miệng.
Don thuộc họ nhà hến, thân bọc bằng hai nửa vỏ úp nhau tựa hình hột xoài. Nếu hến ở môi trường nước ngọt thì don sinh sôi nảy nở nhiều nhất ở môi trường nước lợ (nơi tiếp giáp giữa sông và biển).
< Dụng cụ cào don nặng hơn 10 kg, gồm một cán tre dài 2,5 m, thùng cào dài 1 m. Dụng cụ cào được gắn với dây đeo vào ngang hông, người cào một tay cầm cán tre, tay còn lại tì thắt lưng lấy thế đi giật lùi.
Thường bắt đầu tháng 4, tháng 5, khi mùa khô hạn đã đến, người dân quanh con sông Trà lại vào mùa cào don. Người ta thường đi cào don vào lúc nước ròng tức lúc con nước đang xuống. Vì sống vùi mình dưới cát nên công việc cào don có vẻ như khó hơn xúc hến. Hôm gặp nước lớn phải ngâm hàng giờ trong nước mới đủ lượng don cho buổi chợ ngày mai.
Don thường lẫn nhiều sỏi, rác nên sau khi bắt về, phải tỉ mỉ rửa nhiều lần, đem ngâm cho nhả hết bùn cát rồi mới cho vào nồi luộc đang nghi ngút khói, gặp nóng đột ngột don sẽ tách hết vỏ, nở bung ra, đảo vài lượt cho don rời khỏi vỏ, sau đó đãi ra lấy ruột (thịt don).
Những con don thân chỉ bằng đầu mút đũa ấy vậy mà chế biến rất nhiều món ngon. Phổ biến nhất là món canh don. Trước khi nấu, phải chuẩn bị các phụ gia không thể thiếu là ớt, một ít hành lá, tiêu rừng và bánh tráng nướng. Người ta dùng nước luộc don chắt lấy phần nước trong, bắc lên bếp đun lại cho nước sôi già, cho ruột don mới đãi vào, đợi nồi canh sôi lại nêm gia vị vừa ăn, sau đó mới thả rau thơm đã được cắt nhỏ vào là có một nồi canh don ngọt ngào, mát lành.
Cũng có thể chế biến món don xào, rất đơn giản nhưng lại khá ngon. Khử dầu chín, cho don vào xào đến khi thấy don săn lại, nổ lách tách trong chảo thì nêm nước mắm ngọt, thêm tiêu, ớt chín, một ít hành tây rồi tắt bếp.
Món này nhâm nhi với rượu chắc chắn thực khách sẽ cứ xuýt xoa khen ngon hoài. Nhưng có lẽ độc đáo nhất là món cháo don. Vo một nhúm gạo, nấu cùng với nước luộc don đến khi gạo chín nhuyễn, cho thêm một ít gừng tươi rồi nhắc xuống. Cháo don vừa ngọt, thanh, dậy lên hương thơm quyến rũ, ấm nóng của các loại gia vị như hành, sả, tiêu là món ăn thích hợp cho cả người lớn và trẻ nhỏ.
Những ai đã từng một lần dừng chân bên con sông Trà, được thưởng thức các món từ don mới cảm nhận hết hương vị mặn mòi tình sông nước nơi đây.
Xem thêm >
Theo THANH LY (Vĩnh Long Online)
Du lịch, GO!
Hít hà...Don!
< Don là món ăn dân dã, đậm đà phong vị quê hương, ngon miệng.
Don thuộc họ nhà hến, thân bọc bằng hai nửa vỏ úp nhau tựa hình hột xoài. Nếu hến ở môi trường nước ngọt thì don sinh sôi nảy nở nhiều nhất ở môi trường nước lợ (nơi tiếp giáp giữa sông và biển).
< Dụng cụ cào don nặng hơn 10 kg, gồm một cán tre dài 2,5 m, thùng cào dài 1 m. Dụng cụ cào được gắn với dây đeo vào ngang hông, người cào một tay cầm cán tre, tay còn lại tì thắt lưng lấy thế đi giật lùi.
Thường bắt đầu tháng 4, tháng 5, khi mùa khô hạn đã đến, người dân quanh con sông Trà lại vào mùa cào don. Người ta thường đi cào don vào lúc nước ròng tức lúc con nước đang xuống. Vì sống vùi mình dưới cát nên công việc cào don có vẻ như khó hơn xúc hến. Hôm gặp nước lớn phải ngâm hàng giờ trong nước mới đủ lượng don cho buổi chợ ngày mai.
Don thường lẫn nhiều sỏi, rác nên sau khi bắt về, phải tỉ mỉ rửa nhiều lần, đem ngâm cho nhả hết bùn cát rồi mới cho vào nồi luộc đang nghi ngút khói, gặp nóng đột ngột don sẽ tách hết vỏ, nở bung ra, đảo vài lượt cho don rời khỏi vỏ, sau đó đãi ra lấy ruột (thịt don).
Những con don thân chỉ bằng đầu mút đũa ấy vậy mà chế biến rất nhiều món ngon. Phổ biến nhất là món canh don. Trước khi nấu, phải chuẩn bị các phụ gia không thể thiếu là ớt, một ít hành lá, tiêu rừng và bánh tráng nướng. Người ta dùng nước luộc don chắt lấy phần nước trong, bắc lên bếp đun lại cho nước sôi già, cho ruột don mới đãi vào, đợi nồi canh sôi lại nêm gia vị vừa ăn, sau đó mới thả rau thơm đã được cắt nhỏ vào là có một nồi canh don ngọt ngào, mát lành.Cũng có thể chế biến món don xào, rất đơn giản nhưng lại khá ngon. Khử dầu chín, cho don vào xào đến khi thấy don săn lại, nổ lách tách trong chảo thì nêm nước mắm ngọt, thêm tiêu, ớt chín, một ít hành tây rồi tắt bếp.
Món này nhâm nhi với rượu chắc chắn thực khách sẽ cứ xuýt xoa khen ngon hoài. Nhưng có lẽ độc đáo nhất là món cháo don. Vo một nhúm gạo, nấu cùng với nước luộc don đến khi gạo chín nhuyễn, cho thêm một ít gừng tươi rồi nhắc xuống. Cháo don vừa ngọt, thanh, dậy lên hương thơm quyến rũ, ấm nóng của các loại gia vị như hành, sả, tiêu là món ăn thích hợp cho cả người lớn và trẻ nhỏ.Những ai đã từng một lần dừng chân bên con sông Trà, được thưởng thức các món từ don mới cảm nhận hết hương vị mặn mòi tình sông nước nơi đây.
Xem thêm >
Theo THANH LY (Vĩnh Long Online)
Du lịch, GO!
Hít hà...Don!
Về thăm nơi xuất xứ nón bài thơ
Làng Tây Hồ là nơi sản sinh ra chiếc nón bài thơ - một vật dụng được xem là mang cả vẻ đẹp của tâm hồn Huế. Đến bây giờ, người dân Tây Hồ không còn ai nhớ nghề làm nón lá xuất hiện ở làng mình từ bao giờ, chỉ biết rằng trải qua bao sự thăng trầm của lịch sử, họ vẫn dựa vào nghề này để mưu sinh.
Nằm bên dòng sông Như Ý, làng Tây Hồ (xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế) từ lâu đã nổi tiếng với nghề chằm nón lá truyền thống. Nghề chằm nón lá đã hình thành cách đây hàng trăm năm và nón bài thơ – một nét đặc trưng của Huế cũng xuất phát từ làng nón Tây Hồ (vùng đất đã từng nổi danh có nhiều cô gái xinh đẹp, làm say đắm biết bao chàng trai trong vùng).
“Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”
Chiếc nón bài thơ ra đời ở Tây Hồ như một sự tình cờ: Đó là vào khoảng năm 1959 - 1960, ông Bùi Quang Bặc - một nghệ nhân chằm nón lá, cũng là một người yêu thơ phú trong làng đã có sáng kiến làm nên nón bài thơ bằng cách, ép những câu thơ vào giữa hai lớp lá, tôn vinh thêm vẻ đẹp của chiếc nón (lúc đó, nón lá ở Huế chủ yếu được bán vào thị trường của các tỉnh phía nam).
Hai câu thơ đầu tiên được ông Bặc ép vào chiếc nón là:
“Ai ra xứ Huế mộng mơ
Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”.
Con gái làng Tây Hồ chừng mười tuổi thì đã tự học chằm nón và có người suốt đời chỉ theo nghề chằm nón. Còn đàn ông, ngoài việc đồng áng, họ cũng phụ giúp phụ nữ làm công việc ủi lá hay chẻ tre để làm vành nón.
Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì nức vành và ủi lá. Để có được lá đẹp, người thợ thường chọn lá nón vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng.
Khi xây và lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. Khâu (chằm) nón là công đoạn quyết định đến sự hình thành và vẻ đẹp của cả chiếc nón. Người thợ sẽ khâu từ trên xuống đến vành 15, cứ 1 cm 3 mũi cước trong suốt. Vành cuối cùng khâu cước trắng, 2 mũi kim cách nhau 2 cm. Đường chằm phải mềm mại, thanh nhẹ, dịu dàng.
Khi nón chằm hoàn tất, người ta đính thêm vào chóp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ bóng láng để làm duyên, sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền. Điều làm nên nét đặc biệt nhất của nón lá Tây Hồ so với sản phẩm cùng loại của nhiều làng nón khác ở xứ Huế chính là dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhã nhặn và đặc biệt nhất là những bài thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế được cài trong chiếc nón.
Ban đầu, nón bài thơ được người dân Tây Hồ làm để tặng người thân, không ngờ lại được mọi người yêu thích. Từ đó, những người làm nón ở Tây Hồ bắt đầu làm nón bài thơ hàng loạt, đưa ra bán ở thị trường. Những câu thơ được ép vào nón cũng đa dạng và phong phú hơn, thường là những câu thơ về Huế.
Ngoài ra để làm đẹp thêm cho chiếc nón người ta còn ép vào đấy những bức tranh về sông Hương, núi Ngự cạnh bài thơ. Trải qua một thời gian khá dài, chiếc nón bài thơ là sản phẩm độc quyền của làng nón Tây Hồ. Rồi theo lẽ thường tình, những cô gái làng Tây Hồ đi lấy chồng về các miền quê khác, họ mang theo nghề nón lá truyền thống của mình và nghề làm nón bài thơ được lan truyền rộng rãi khắp các miền quê.
Từ Tây Hồ, những chiếc nón bài thơ toả đi khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của mỗi phụ nữ Huế. Chỉ với nguyên liệu đơn giản của lá dừa, lá gồi, những chiếc nón bài thơ vẫn trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ.
Với nhiều người, lựa nón, lựa quai cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong cái nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề. Những gương mặt trẻ trung ẩn hiện sau vành nón sáng lấp loá đã trở thành một ấn tượng rất Huế, rất Việt Nam.
Nón lá - nét duyên xứ Huế
Nón lá Việt Nam
Theo Website Du lịch Huế (không tìm ra link nguồn)
Du lịch, GO!
Nằm bên dòng sông Như Ý, làng Tây Hồ (xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế) từ lâu đã nổi tiếng với nghề chằm nón lá truyền thống. Nghề chằm nón lá đã hình thành cách đây hàng trăm năm và nón bài thơ – một nét đặc trưng của Huế cũng xuất phát từ làng nón Tây Hồ (vùng đất đã từng nổi danh có nhiều cô gái xinh đẹp, làm say đắm biết bao chàng trai trong vùng).
“Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”
Chiếc nón bài thơ ra đời ở Tây Hồ như một sự tình cờ: Đó là vào khoảng năm 1959 - 1960, ông Bùi Quang Bặc - một nghệ nhân chằm nón lá, cũng là một người yêu thơ phú trong làng đã có sáng kiến làm nên nón bài thơ bằng cách, ép những câu thơ vào giữa hai lớp lá, tôn vinh thêm vẻ đẹp của chiếc nón (lúc đó, nón lá ở Huế chủ yếu được bán vào thị trường của các tỉnh phía nam).
Hai câu thơ đầu tiên được ông Bặc ép vào chiếc nón là:
“Ai ra xứ Huế mộng mơ
Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”.
Con gái làng Tây Hồ chừng mười tuổi thì đã tự học chằm nón và có người suốt đời chỉ theo nghề chằm nón. Còn đàn ông, ngoài việc đồng áng, họ cũng phụ giúp phụ nữ làm công việc ủi lá hay chẻ tre để làm vành nón.
Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì nức vành và ủi lá. Để có được lá đẹp, người thợ thường chọn lá nón vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng.
Khi xây và lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. Khâu (chằm) nón là công đoạn quyết định đến sự hình thành và vẻ đẹp của cả chiếc nón. Người thợ sẽ khâu từ trên xuống đến vành 15, cứ 1 cm 3 mũi cước trong suốt. Vành cuối cùng khâu cước trắng, 2 mũi kim cách nhau 2 cm. Đường chằm phải mềm mại, thanh nhẹ, dịu dàng.
Khi nón chằm hoàn tất, người ta đính thêm vào chóp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ bóng láng để làm duyên, sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền. Điều làm nên nét đặc biệt nhất của nón lá Tây Hồ so với sản phẩm cùng loại của nhiều làng nón khác ở xứ Huế chính là dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhã nhặn và đặc biệt nhất là những bài thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế được cài trong chiếc nón.
Ban đầu, nón bài thơ được người dân Tây Hồ làm để tặng người thân, không ngờ lại được mọi người yêu thích. Từ đó, những người làm nón ở Tây Hồ bắt đầu làm nón bài thơ hàng loạt, đưa ra bán ở thị trường. Những câu thơ được ép vào nón cũng đa dạng và phong phú hơn, thường là những câu thơ về Huế.
Ngoài ra để làm đẹp thêm cho chiếc nón người ta còn ép vào đấy những bức tranh về sông Hương, núi Ngự cạnh bài thơ. Trải qua một thời gian khá dài, chiếc nón bài thơ là sản phẩm độc quyền của làng nón Tây Hồ. Rồi theo lẽ thường tình, những cô gái làng Tây Hồ đi lấy chồng về các miền quê khác, họ mang theo nghề nón lá truyền thống của mình và nghề làm nón bài thơ được lan truyền rộng rãi khắp các miền quê.
Từ Tây Hồ, những chiếc nón bài thơ toả đi khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của mỗi phụ nữ Huế. Chỉ với nguyên liệu đơn giản của lá dừa, lá gồi, những chiếc nón bài thơ vẫn trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ.
Với nhiều người, lựa nón, lựa quai cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong cái nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề. Những gương mặt trẻ trung ẩn hiện sau vành nón sáng lấp loá đã trở thành một ấn tượng rất Huế, rất Việt Nam.
Nón lá - nét duyên xứ Huế
Nón lá Việt Nam
Theo Website Du lịch Huế (không tìm ra link nguồn)
Du lịch, GO!
"Săn cu ly" ở miền Tây xứ Nghệ
"Săn" cây cu ly là một nghề rất lâu đời của các đồng bào dân tộc ở miền Tây tỉnh Nghệ An. Để lấy được cu ly không phải đơn giản, người ta phải trèo đèo lội suối vào trong rừng sâu mới có được tinh hoa của rừng.
< Cụ bà Cụt Thị Tỵ đã 80 tuổi nhưng vẫn là "thợ săn cu ly".
Theo Đông y, do cây cu ly có lớp lông vàng bọc ngoài nên nó còn được gọi là kim mao cẩu tích, cây lông khỉ, cây lông cu li. Cây thuộc họ dương xỉ, là vị thuốc chuyên trị đau lưng, gân xương nhức mỏi. Chúng chỉ mọc nhiều và phát triển được trên những đỉnh núi có độ cao.
Nghề truyền kiếp
Khẳng định nghề "săn cu ly" là nghề truyền kiếp của đồng bào các dân tộc miền Tây xứ Nghệ quả là không ngoa. Khi chúng tôi đến huyện Kỳ Sơn, những đoàn người kéo nhau lên núi để lấy cây cu ly đông như đi hội. Họ tụ họp nhau dưới những chân núi cao rồi chia nhau theo nhóm từ 2 - 5 người vào tận rừng sâu để tìm cho ra những cây cu lu già đem về thị trấn bán cho đầu mối thu mua lâm sản.
Người đầu tiên chúng tôi tìm gặp là cụ Cụt Văn Tuất, người dân tộc Khơ Mú ở xã Nậm Cắn. Cụ Tuất năm nay đã ở tuổi 86, chân tay đã yếu nên run rẩy lắm, vì thế cụ không còn đủ sức đi lấy cây cu ly về bán như mọi năm. Gia đình cụ bây giờ, có tất cả 7 người rủ nhau lên núi, trong đó cụ bà Cụt Thị Tỵ đã 80 tuổi nhưng vẫn còn sức khoẻ để dẫn đầu đoàn con cháu đi "săn cu ly".
< Cu ly được một hộ dân thu mua.
Cụ Tuất kể: "Thời còn nhỏ, tôi đã cùng bố mẹ lên núi lấy cây cu ly rồi. Hồi ấy không phải tìm cu ly bán mà chỉ để làm thuốc, cùng lắm là chuyển xuống tỉnh lỵ bán rẻ cho các thầy lang. Nhưng bây giờ lại khác, cu ly có giá nên ai cũng đi tìm kiếm cho bằng được".
Ở huyện biên giới Kỳ Sơn, ngoài Nậm Cắn, cây cu ly còn phân bố rất đa dạng ở các đỉnh núi cao thuộc các xã Mường Lống, Huổi Tụ và Na Loi. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ sức khoẻ để theo nghề "săn cu ly", mà nếu đủ sức cũng chưa chắc đã lấy được cây cu ly về. Vì thế, theo những "thợ săn" có tiếng ở Kỳ Sơn, để lấy được cây cu ly cần thiết phải có hai yếu tố: Sức khoẻ và kinh nghiệm.
Vượt núi tìm cu ly
< Mỗi ngày, "thợ săn cu ly" có thể kiếm được vài chục nghìn đồng.
Theo ông Lầu Tồng Pó, Chủ tịch UBND xã Nậm Càn: "Thợ "săn cu ly" cực nhọc lắm chứ không giản đơn như nhiều người vẫn nghĩ đâu. Ngoài những cây cu ly mọc ven rừng thì phần lớn cu ly sống trên những đỉnh núi có độ ẩm cao. Để lấy được cu ly, người ta phải cơm nắm cơm gói cả mấy ngày trời mới lấy được vài chục cân cu ly".
Trước đây, khi đang là cán bộ bản, ông Pó cũng là một thợ săn cu ly chuyên nghiệp. Vốn là người dân tộc Mông, lại leo rừng giỏi nên ông Pó cùng một nhóm thanh niên trong bản đi săn cu ly. Chỉ 3 ngày sau, nhóm của ông trở về với trên nửa tấn cu ly. Tuy nhiên, theo ông Pó, trước đây cây cu ly không có giá nên số tiền thu được chỉ đủ để anh em nhậu nhẹt vài bữa. Chứ như bây giờ, thì cu ly lại trở thành "vàng mười" của đất trời Kỳ Sơn.
Cu ly lên giá đã kéo theo rất nhiều người ở huyện Kỳ Sơn đua nhau lên núi "săn cu ly". Mùa thu hoạch cu ly chính thức từ sau Tết Nguyên đán, tuy nhiên lúc ấy cu ly còn non nên rất hiếm có người nào kỳ công lên núi hái lượm. Đến tháng 6 dương lịch, khi cây cu ly đã già và lớp lông màu vàng mịn đã phủ kín thân cây mới là thời điểm thích hợp để các thợ săn trổ tài.
Anh Lô Văn Hiếu ở xã Na Loi dẫn đầu một nhóm bốn người, tất cả đều đeo gùi trên lưng và mang theo dao phát rẫy. Anh Hiếu cho biết: "Lấy cây cu ly không khó, nhưng tìm vị trí cây cu ly sống mới kỳ công. Chúng tôi trèo đèo lội suối suốt cả ngày mà cũng chỉ lấy được trên 100kg cu ly mà thôi".
Cũng theo anh Hiếu, có ngày chỉ lấy được vài cây nhưng có ngày lại bắt gặp cả rừng cu ly, phải huy động tất cả anh em bạn bè lên núi gồng gánh cu ly về thị trấn Mường Xén để bán. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho nghề "săn cu ly" cũng không phải là rẻ, đã có rất nhiều thợ săn bị ngã núi hoặc bị rắn độc cắn. Tuy nhiên, cho đến nay các địa phương chưa có bất cứ một thống kê chính xác nào về hệ luỵ của công việc này.
"Kim mao cẩu tích" sẽ hiếm dần
Theo ông Nguyễn Quốc Minh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kỳ Sơn: "Cu ly còn được gọi là kim mao cẩu tích,cây lông khỉ, cù liền, cù lần... là một trong những thảo dược quý. Tuy nhiên, chúng tôi không thể xử lý người khai thác cây cu ly vì một lý do rất đơn giản, cu ly là một loại lâm sản ngoài gỗ, không nằm trong danh mục quý hiếm cần bảo vệ".
< Cảnh ở một điểm thu mua cây lông cu li trên tỉnh lộ 520.
Cũng theo khảo sát của ông Minh, hiện ở huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) gần như rất khó để tìm được cây cu ly. Tình trạng khai thác quá nhiều đã dẫn đến sự cạn kiệt loài cây này. Giá cu ly ở Kỳ Sơn luôn dao động từ 2.000 - 3.000đ/kg, mà có khi một cây cu ly lớn đã nặng vài kg. Vì thế, ở một huyện nghèo tốp đầu cả nước như Kỳ Sơn thì việc người dân kiếm được vài chục nghìn mỗi ngày không chỉ là niềm vui, mà còn là kỳ tích.
Theo ông Nguyễn Quốc Minh (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Kỳ Sơn): Cây cu ly mọc rễ từ gốc lan ra xung quanh, những người "săn cu ly" phải hì hụi đào xuống rồi cắt lấy phần lông của cu ly. Ngày cao điểm, lái buôn ở thị trấn Mường Xén thu được cả chục tấn cu ly. Thậm chí, ở Kỳ Sơn còn hình thành những đầu mối thu mua cu ly cực lớn từ bên Lào về Việt Nam.
Tuy nhiên, mặt trái của niềm vui và kỳ tích ấy chính là sự cạn kiệt của cu ly.
Du lịch, GO! - Theo Kiến Thức, internet
< Cụ bà Cụt Thị Tỵ đã 80 tuổi nhưng vẫn là "thợ săn cu ly".
Theo Đông y, do cây cu ly có lớp lông vàng bọc ngoài nên nó còn được gọi là kim mao cẩu tích, cây lông khỉ, cây lông cu li. Cây thuộc họ dương xỉ, là vị thuốc chuyên trị đau lưng, gân xương nhức mỏi. Chúng chỉ mọc nhiều và phát triển được trên những đỉnh núi có độ cao.
Nghề truyền kiếp
Khẳng định nghề "săn cu ly" là nghề truyền kiếp của đồng bào các dân tộc miền Tây xứ Nghệ quả là không ngoa. Khi chúng tôi đến huyện Kỳ Sơn, những đoàn người kéo nhau lên núi để lấy cây cu ly đông như đi hội. Họ tụ họp nhau dưới những chân núi cao rồi chia nhau theo nhóm từ 2 - 5 người vào tận rừng sâu để tìm cho ra những cây cu lu già đem về thị trấn bán cho đầu mối thu mua lâm sản.
Người đầu tiên chúng tôi tìm gặp là cụ Cụt Văn Tuất, người dân tộc Khơ Mú ở xã Nậm Cắn. Cụ Tuất năm nay đã ở tuổi 86, chân tay đã yếu nên run rẩy lắm, vì thế cụ không còn đủ sức đi lấy cây cu ly về bán như mọi năm. Gia đình cụ bây giờ, có tất cả 7 người rủ nhau lên núi, trong đó cụ bà Cụt Thị Tỵ đã 80 tuổi nhưng vẫn còn sức khoẻ để dẫn đầu đoàn con cháu đi "săn cu ly".
< Cu ly được một hộ dân thu mua.
Cụ Tuất kể: "Thời còn nhỏ, tôi đã cùng bố mẹ lên núi lấy cây cu ly rồi. Hồi ấy không phải tìm cu ly bán mà chỉ để làm thuốc, cùng lắm là chuyển xuống tỉnh lỵ bán rẻ cho các thầy lang. Nhưng bây giờ lại khác, cu ly có giá nên ai cũng đi tìm kiếm cho bằng được".
Ở huyện biên giới Kỳ Sơn, ngoài Nậm Cắn, cây cu ly còn phân bố rất đa dạng ở các đỉnh núi cao thuộc các xã Mường Lống, Huổi Tụ và Na Loi. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ sức khoẻ để theo nghề "săn cu ly", mà nếu đủ sức cũng chưa chắc đã lấy được cây cu ly về. Vì thế, theo những "thợ săn" có tiếng ở Kỳ Sơn, để lấy được cây cu ly cần thiết phải có hai yếu tố: Sức khoẻ và kinh nghiệm.
Vượt núi tìm cu ly
< Mỗi ngày, "thợ săn cu ly" có thể kiếm được vài chục nghìn đồng.
Theo ông Lầu Tồng Pó, Chủ tịch UBND xã Nậm Càn: "Thợ "săn cu ly" cực nhọc lắm chứ không giản đơn như nhiều người vẫn nghĩ đâu. Ngoài những cây cu ly mọc ven rừng thì phần lớn cu ly sống trên những đỉnh núi có độ ẩm cao. Để lấy được cu ly, người ta phải cơm nắm cơm gói cả mấy ngày trời mới lấy được vài chục cân cu ly".
Trước đây, khi đang là cán bộ bản, ông Pó cũng là một thợ săn cu ly chuyên nghiệp. Vốn là người dân tộc Mông, lại leo rừng giỏi nên ông Pó cùng một nhóm thanh niên trong bản đi săn cu ly. Chỉ 3 ngày sau, nhóm của ông trở về với trên nửa tấn cu ly. Tuy nhiên, theo ông Pó, trước đây cây cu ly không có giá nên số tiền thu được chỉ đủ để anh em nhậu nhẹt vài bữa. Chứ như bây giờ, thì cu ly lại trở thành "vàng mười" của đất trời Kỳ Sơn.
Cu ly lên giá đã kéo theo rất nhiều người ở huyện Kỳ Sơn đua nhau lên núi "săn cu ly". Mùa thu hoạch cu ly chính thức từ sau Tết Nguyên đán, tuy nhiên lúc ấy cu ly còn non nên rất hiếm có người nào kỳ công lên núi hái lượm. Đến tháng 6 dương lịch, khi cây cu ly đã già và lớp lông màu vàng mịn đã phủ kín thân cây mới là thời điểm thích hợp để các thợ săn trổ tài.
Anh Lô Văn Hiếu ở xã Na Loi dẫn đầu một nhóm bốn người, tất cả đều đeo gùi trên lưng và mang theo dao phát rẫy. Anh Hiếu cho biết: "Lấy cây cu ly không khó, nhưng tìm vị trí cây cu ly sống mới kỳ công. Chúng tôi trèo đèo lội suối suốt cả ngày mà cũng chỉ lấy được trên 100kg cu ly mà thôi".
Cũng theo anh Hiếu, có ngày chỉ lấy được vài cây nhưng có ngày lại bắt gặp cả rừng cu ly, phải huy động tất cả anh em bạn bè lên núi gồng gánh cu ly về thị trấn Mường Xén để bán. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho nghề "săn cu ly" cũng không phải là rẻ, đã có rất nhiều thợ săn bị ngã núi hoặc bị rắn độc cắn. Tuy nhiên, cho đến nay các địa phương chưa có bất cứ một thống kê chính xác nào về hệ luỵ của công việc này.
"Kim mao cẩu tích" sẽ hiếm dần
Theo ông Nguyễn Quốc Minh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kỳ Sơn: "Cu ly còn được gọi là kim mao cẩu tích,cây lông khỉ, cù liền, cù lần... là một trong những thảo dược quý. Tuy nhiên, chúng tôi không thể xử lý người khai thác cây cu ly vì một lý do rất đơn giản, cu ly là một loại lâm sản ngoài gỗ, không nằm trong danh mục quý hiếm cần bảo vệ".
< Cảnh ở một điểm thu mua cây lông cu li trên tỉnh lộ 520.
Cũng theo khảo sát của ông Minh, hiện ở huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) gần như rất khó để tìm được cây cu ly. Tình trạng khai thác quá nhiều đã dẫn đến sự cạn kiệt loài cây này. Giá cu ly ở Kỳ Sơn luôn dao động từ 2.000 - 3.000đ/kg, mà có khi một cây cu ly lớn đã nặng vài kg. Vì thế, ở một huyện nghèo tốp đầu cả nước như Kỳ Sơn thì việc người dân kiếm được vài chục nghìn mỗi ngày không chỉ là niềm vui, mà còn là kỳ tích.
Theo ông Nguyễn Quốc Minh (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Kỳ Sơn): Cây cu ly mọc rễ từ gốc lan ra xung quanh, những người "săn cu ly" phải hì hụi đào xuống rồi cắt lấy phần lông của cu ly. Ngày cao điểm, lái buôn ở thị trấn Mường Xén thu được cả chục tấn cu ly. Thậm chí, ở Kỳ Sơn còn hình thành những đầu mối thu mua cu ly cực lớn từ bên Lào về Việt Nam.
Tuy nhiên, mặt trái của niềm vui và kỳ tích ấy chính là sự cạn kiệt của cu ly.
Du lịch, GO! - Theo Kiến Thức, internet
Popular Posts
-
K hu tưởng niệm các vua Hùng là một công trình thuộc khu Cổ Đại của dự án Công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc. Khu tưởng niệm tọa lạc trên ...
-
(CTTĐTTTH) - A n Định Cung không chỉ nổi tiếng là một công trình đẹp của cung đình Huế mà nó còn là nơi chứng kiến nhiều nỗi thăng trầm của ...
-
(Metinfo) - A i cũng biết khổ qua nguyên trái hầm thịt nạc bằm hoặc cá thác lác quết nước muối, khổ qua xắt lát xào thịt bò , khổ qua xắt lá...
-
H à Giang có rất nhiều chợ: chợ Phố Cáo, chợ Phó Bảng, chợ Sủng Là, chợ Lũng Phìn, chợ Ma Lé, chợ Đồng Văn, chợ Mèo Vạc, chợ Sà Phìn… Đa phầ...
-
(QN online) - C ùng với za’ră (thịt thọc ống), aví cuốt (bánh sừng trâu), ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc n...
-
G iữa nhịp sống hối hả và ồn ào của TP. Hồ Chí Minh, nếu bạn bước chân vào nơi rợp bóng cây, lộng gió và nghe tiếng chim hót sẽ là một niềm ...
-
(iHay) - T hị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên nằm giữa 2 thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và Tuy Hòa (Phú Yên). Có lẽ do nằm trong “vùng trũng” g...
-
(Daidoanket) - N gược dòng Long Đại, con thuyền đưa chúng tôi đi ngang qua các thôn, bản với những tên gọi dân gian như Ổ Gà, Lùi, Cập, Chuố...
-
C hùa Vạn Đức tọa lạc số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh). Chùa do HT.Thích Trí Tịnh, đời thứ 41 dòng t...
-
(VTC New) - A i ở xứ Huế quan tâm đến chuyện hưng vong của triều Nguyễn đều biết di tích lịch sử Lăng Sọ gắn liền với nhiều chuyện ly kỳ nhu...










