Home » Posts filed under Lễ hội
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lễ hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lễ hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Độc đáo lễ hội Thu tế
(ANTĐ) - Nằm trong hệ thống đầm phá Tam Giang lừng danh của Huế, đầm An Truyền (còn có tên là đầm Chuồn) cách thành phố Huế 10km từ lâu đã nổi tiếng với vẻ đẹp yên bình, thu hút các tay máy tới “săn” những khoảnh khắc độc đáo của thiên nhiên và con người.
< Chiều trên đầm An Truyền.
Ngoài vẻ đẹp khiến người ta phải sững lại vì sự ưu ái của thiên nhiên cho đầm đầy tôm cá, đến với An Truyền, ta còn được khám phá cả những nét văn hóa vô cùng đặc sắc của vùng đất miền Trung.
Làng An Truyền, cũng như nhiều vùng đất Trung bộ khác, có tín ngưỡng thờ tiên hiền, hậu hiền. Trong đình làng có thờ Tam vị khai căn, gọi là Hồ Quản Lãnh, Nguyễn Tổng Bảng, Đoàn Minh Tự; thờ thất tộc (họ Hồ, Nguyễn, Đoàn, Huỳnh, Trần, Lê, Võ) là những dòng họ lớn, sinh sống lâu đời ở làng. Tín ngưỡng thờ tiên hiền, hậu hiền này xuất hiện khi người dân di cư vào những vùng đất hoang vu khai hoang, lập ấp, từ đó nhớ ơn những người có công khai phá mà thờ. Tam vị khai căn của làng Chuồn còn được thờ ở miếu giữa đồng, cứ đến lễ Thu tế, dân làng lại làm lễ thỉnh các ngài từ miếu vào Tổ Đình, rồi đến ngày hôm sau lại rước các ngài về miếu.
< Đình làng An Truyền.
Khác với văn hóa Bắc bộ coi đình làng là nơi quan trọng nhất trong đời sống tâm linh, là nơi thờ Thành hoàng làng – vị thần bảo trợ cho cộng đồng làng xã, người miền Trung coi trọng ngôi miếu thờ Thổ công hơn.
Đình làng An Truyền thờ Thượng thư bộ Lễ triều Nguyễn là Hồ Đắc Trung, ông được triều đình nhà Nguyễn phong là Đệ nhất gia. Là con dân của làng An Truyền, ông đã đem các nghi thức tế lễ đậm chất cung đình truyền dạy lại cho dân làng. Vì vậy, nếu muốn trải nghiệm một lễ hội đậm chất truyền thống, đừng bỏ lỡ lễ hội Thu tế của An Truyền. Từ trang phục, bước đi dâng rượu, dâng đèn, tới điệu hát Thài… người làng An Truyền vẫn giữ được nét nguyên bản cho đến ngày nay.
< Lễ hội Thu tế tại đình An Truyền.
Nét văn hóa độc đáo của làng Chuồn không chỉ dừng lại ở đó. Nếu đã quen với văn hóa người Việt đồng bằng Bắc bộ, hẳn bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng đình làng An Truyền còn thờ một người phụ nữ. Tương truyền rằng bà họ Huỳnh, quê gốc ở Thanh Hóa, cùng 2 con di cư vào vùng đất đầm phá này cắm cọc, quây đầm, từ đó người dân làng Chuồn mới có đầm đánh tôm, bắt cá. Người dân ghi nhớ công lao nên thờ phụng, bà được phong là Trinh Nữ Đoan Túc Tôn Thần, thờ trong Tổ Đình.
Xem thêm >
Theo Phan Diệu Hương (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!
< Chiều trên đầm An Truyền.
Ngoài vẻ đẹp khiến người ta phải sững lại vì sự ưu ái của thiên nhiên cho đầm đầy tôm cá, đến với An Truyền, ta còn được khám phá cả những nét văn hóa vô cùng đặc sắc của vùng đất miền Trung.
Làng An Truyền, cũng như nhiều vùng đất Trung bộ khác, có tín ngưỡng thờ tiên hiền, hậu hiền. Trong đình làng có thờ Tam vị khai căn, gọi là Hồ Quản Lãnh, Nguyễn Tổng Bảng, Đoàn Minh Tự; thờ thất tộc (họ Hồ, Nguyễn, Đoàn, Huỳnh, Trần, Lê, Võ) là những dòng họ lớn, sinh sống lâu đời ở làng. Tín ngưỡng thờ tiên hiền, hậu hiền này xuất hiện khi người dân di cư vào những vùng đất hoang vu khai hoang, lập ấp, từ đó nhớ ơn những người có công khai phá mà thờ. Tam vị khai căn của làng Chuồn còn được thờ ở miếu giữa đồng, cứ đến lễ Thu tế, dân làng lại làm lễ thỉnh các ngài từ miếu vào Tổ Đình, rồi đến ngày hôm sau lại rước các ngài về miếu.
< Đình làng An Truyền.
Khác với văn hóa Bắc bộ coi đình làng là nơi quan trọng nhất trong đời sống tâm linh, là nơi thờ Thành hoàng làng – vị thần bảo trợ cho cộng đồng làng xã, người miền Trung coi trọng ngôi miếu thờ Thổ công hơn.
Đình làng An Truyền thờ Thượng thư bộ Lễ triều Nguyễn là Hồ Đắc Trung, ông được triều đình nhà Nguyễn phong là Đệ nhất gia. Là con dân của làng An Truyền, ông đã đem các nghi thức tế lễ đậm chất cung đình truyền dạy lại cho dân làng. Vì vậy, nếu muốn trải nghiệm một lễ hội đậm chất truyền thống, đừng bỏ lỡ lễ hội Thu tế của An Truyền. Từ trang phục, bước đi dâng rượu, dâng đèn, tới điệu hát Thài… người làng An Truyền vẫn giữ được nét nguyên bản cho đến ngày nay.
< Lễ hội Thu tế tại đình An Truyền.
Nét văn hóa độc đáo của làng Chuồn không chỉ dừng lại ở đó. Nếu đã quen với văn hóa người Việt đồng bằng Bắc bộ, hẳn bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng đình làng An Truyền còn thờ một người phụ nữ. Tương truyền rằng bà họ Huỳnh, quê gốc ở Thanh Hóa, cùng 2 con di cư vào vùng đất đầm phá này cắm cọc, quây đầm, từ đó người dân làng Chuồn mới có đầm đánh tôm, bắt cá. Người dân ghi nhớ công lao nên thờ phụng, bà được phong là Trinh Nữ Đoan Túc Tôn Thần, thờ trong Tổ Đình.
Xem thêm >
Theo Phan Diệu Hương (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!
Về với lễ hội Đền Cờn
Nhân dân xứ Nghệ xưa vẫn lưu truyền câu 'Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng' để nói về những ngôi đền thiêng ở xứ Nghệ.
Trong số đó, đền Cờn được xếp ở vị trí số một bởi vẻ đẹp và sự linh thiêng - cái đẹp của một công trình kiến trúc cổ tọa lạc ở địa thế sơn thủy hữu tình, hướng mặt về dòng sông Mai Giang, núi Voi, núi Xước, sau lưng là biển xanh, cát trắng và linh thiêng bởi những truyền thuyết gắn với các vị thần được thờ ở Đền - Tứ vị Thánh nương.
Đền Cờn ở xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, cách thủ đô Hà Nội hơn 200km về phía nam, cách TP.Vinh 75km về phía Bắc theo quốc lộ 1A. Di tích đền Cờn gồm đền Cờn trong và đền Cờn ngoài.
Đền Cờn được vua Trần Anh Tông ban sắc chỉ xây dựng vào năm 1312 và được vua Lê Thánh Tông cho tu sửa vào năm 1471. Trong số hơn 30 địa điểm thờ tự Tứ vị thánh nương ở vùng ven biển Nghệ An, đền Cờn ở làng Phương Cần, xã Quỳnh Phương được xem là nơi tiêu biểu nhất, nơi phát tích của Đức thánh Tứ vị.
Đền Cờn trong là đền chính nằm ngay cạnh dòng sông Mai Giang. Qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, đến nay đền cơ bản vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ thuộc niên đại cuối triều Lê, đầu triều Nguyễn.
Ở tòa Thượng điện của đền có khám thờ đặt tượng Thánh mẫu, tức bà Thái hậu Dương Nguyệt Quả, mẹ vua Đế Bính. Ngoài khám thờ có đặt 3 pho tượng nhỏ hơn ngang hàng nhau, trong đó có 2 tượng công chúa Triệu Nguyệt Khiêu và Triệu Nguyệt Hương: con gái thái hậu Dương Nguyệt Quả và tượng còn lại ở giữa là Quách Thị Hoàng hậu, vợ vua Đế Bính.
Đền Cờn ngoài cách đền Cờn trong khoảng 1km, tọa lạc trên dãy núi Hùng Vương. Đền thờ các vị thần như: Đế Bính, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu... Đền được đặt trên núi ngay sát cửa biển, nên khách du lịch đến đấy ngoài sự cổ kính, du khách còn được thư giãn với phong cảnh rất phóng khoáng và thơ mộng.
Lễ hội đền Cờn cũng là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo, phản ánh rõ nhất về tín ngưỡng dân gian miền biển. Lễ hội đền Cờn là một trong những lễ hội cổ nhất ở xứ Nghệ, đã từng được khởi xướng từ cách đây khoảng 800 năm.
Lễ hội Đền Cờn được tổ chức từ ngày 20-21/01 (Âm lịch) hàng năm cuốn hút đông đảo du khách thập phương về dự. Ngoài các lễ tế trang trọng và các trò chơi dân gian mang đậm màu sắc văn hóa biển như đua thuyền, đấu vật... thì nét đặc sắc nhất của lễ hội đền Cờn là tục “chạy Ói”. Chạy Ói diễn lại việc tranh chấp cây gỗ thần theo truyền thuyết liên quan đến Tứ Vị Thánh nương.
Tục chạy Ói trong lễ hội đền Cờn phản ánh niềm tin của người dân về sự linh thiêng của cây gỗ thần. Xưa kia, tục chạy Ói được tổ chức dưới hình thức một trò chơi dân gian mang tinh thần thượng võ. Ngay nay, tục chạy Ói vẫn có một sức hấp dẫn rất lớn và là một điểm nhấn của lễ hội đền Cờn.
Với người dân biển Quỳnh Lưu, lễ hội đền Cờn là nơi thể hiện tín ngưỡng tâm linh, phong tục của người dân vùng biển gắn với nghề đánh bắt cá, buôn thuyền mành. Riêng với đông đảo nhân dân xứ Nghệ và du khách thập phương, đầu năm được về với đền Cờn và lễ hội đền Cờn là về với chốn linh thiêng, được thực hành những nghi lễ tâm linh thực sự có ý nghĩa, được hòa mình vào một thế giới tinh thần huyền bí để tưởng nhớ Đức thánh Tứ vị và cầu mong các vị thần thánh phù hộ cho một năm bình an, nhiều phúc lộc.
Theo Travel Zizi
Du lịch, GO!
Trong số đó, đền Cờn được xếp ở vị trí số một bởi vẻ đẹp và sự linh thiêng - cái đẹp của một công trình kiến trúc cổ tọa lạc ở địa thế sơn thủy hữu tình, hướng mặt về dòng sông Mai Giang, núi Voi, núi Xước, sau lưng là biển xanh, cát trắng và linh thiêng bởi những truyền thuyết gắn với các vị thần được thờ ở Đền - Tứ vị Thánh nương.
Đền Cờn ở xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, cách thủ đô Hà Nội hơn 200km về phía nam, cách TP.Vinh 75km về phía Bắc theo quốc lộ 1A. Di tích đền Cờn gồm đền Cờn trong và đền Cờn ngoài.
Đền Cờn được vua Trần Anh Tông ban sắc chỉ xây dựng vào năm 1312 và được vua Lê Thánh Tông cho tu sửa vào năm 1471. Trong số hơn 30 địa điểm thờ tự Tứ vị thánh nương ở vùng ven biển Nghệ An, đền Cờn ở làng Phương Cần, xã Quỳnh Phương được xem là nơi tiêu biểu nhất, nơi phát tích của Đức thánh Tứ vị.
Đền Cờn trong là đền chính nằm ngay cạnh dòng sông Mai Giang. Qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, đến nay đền cơ bản vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ thuộc niên đại cuối triều Lê, đầu triều Nguyễn.
Ở tòa Thượng điện của đền có khám thờ đặt tượng Thánh mẫu, tức bà Thái hậu Dương Nguyệt Quả, mẹ vua Đế Bính. Ngoài khám thờ có đặt 3 pho tượng nhỏ hơn ngang hàng nhau, trong đó có 2 tượng công chúa Triệu Nguyệt Khiêu và Triệu Nguyệt Hương: con gái thái hậu Dương Nguyệt Quả và tượng còn lại ở giữa là Quách Thị Hoàng hậu, vợ vua Đế Bính.
Đền Cờn ngoài cách đền Cờn trong khoảng 1km, tọa lạc trên dãy núi Hùng Vương. Đền thờ các vị thần như: Đế Bính, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu... Đền được đặt trên núi ngay sát cửa biển, nên khách du lịch đến đấy ngoài sự cổ kính, du khách còn được thư giãn với phong cảnh rất phóng khoáng và thơ mộng.
Lễ hội đền Cờn cũng là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo, phản ánh rõ nhất về tín ngưỡng dân gian miền biển. Lễ hội đền Cờn là một trong những lễ hội cổ nhất ở xứ Nghệ, đã từng được khởi xướng từ cách đây khoảng 800 năm.
Lễ hội Đền Cờn được tổ chức từ ngày 20-21/01 (Âm lịch) hàng năm cuốn hút đông đảo du khách thập phương về dự. Ngoài các lễ tế trang trọng và các trò chơi dân gian mang đậm màu sắc văn hóa biển như đua thuyền, đấu vật... thì nét đặc sắc nhất của lễ hội đền Cờn là tục “chạy Ói”. Chạy Ói diễn lại việc tranh chấp cây gỗ thần theo truyền thuyết liên quan đến Tứ Vị Thánh nương.
Tục chạy Ói trong lễ hội đền Cờn phản ánh niềm tin của người dân về sự linh thiêng của cây gỗ thần. Xưa kia, tục chạy Ói được tổ chức dưới hình thức một trò chơi dân gian mang tinh thần thượng võ. Ngay nay, tục chạy Ói vẫn có một sức hấp dẫn rất lớn và là một điểm nhấn của lễ hội đền Cờn.
Với người dân biển Quỳnh Lưu, lễ hội đền Cờn là nơi thể hiện tín ngưỡng tâm linh, phong tục của người dân vùng biển gắn với nghề đánh bắt cá, buôn thuyền mành. Riêng với đông đảo nhân dân xứ Nghệ và du khách thập phương, đầu năm được về với đền Cờn và lễ hội đền Cờn là về với chốn linh thiêng, được thực hành những nghi lễ tâm linh thực sự có ý nghĩa, được hòa mình vào một thế giới tinh thần huyền bí để tưởng nhớ Đức thánh Tứ vị và cầu mong các vị thần thánh phù hộ cho một năm bình an, nhiều phúc lộc.
Theo Travel Zizi
Du lịch, GO!
Tết Lùng Cùng ở Vụ Bản
(Cinet) - Tết Lùng Cùng thường được tổ chức thường niên vào mùng 1 tháng 2 âm lịch tại xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định. Và nói đến Tết Lùng Cùng, người ta không thể quên món bánh khúc, đặc sản làm nên nét riêng khác biệt của ngày Tết đặc biệt này.
Tết Lùng Cùng còn có tên gọi khác là Tết Bánh Khúc hay Tết Vỗ bồ, là dịp lễ truyền thống của nhân dân 3 thôn Thượng, Tâm, Tiền xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định. Tích xưa kể rằng: khi xưa vùng đất này thuộc trấn Sơn Nam Hạ, sinh ra một vị tướng danh tiếng, tài giỏi, cả cuộc đời hiến dâng cho sự nghiệp bảo vệ bờ cõi dân tộc. Có một năm ông và quân sĩ không thể về ăn Tết cùng gia đình vì phải lo đánh dẹp giặc ngoại bang.
Đầu tháng 2 (âm lịch) năm đó, đội quân do ông làm thủ lĩnh đã giành chiến thắng, ông quyết định tổ chức ăn mừng. Song vì đánh giặc dài ngày, lương thảo dự trữ không còn nhiều, ông đã nghĩ ra cách giã rau khúc để trộn thêm với gạo nếp làm thành chiếc bánh khúc để tế cáo trời đất, sau đó phát cho quân sĩ và nhân dân nơi đây.
Thời gian trôi qua, cho đến nay, Tết Lùng Cùng vẫn được tổ chức để tri ân công đức tổ tiên và là ngày cả gia đình sum họp. Trong ngày này, món bánh khúc thay thể cho bánh chưng, bánh dày trong Tết âm lịch để dâng lên tổ tiên.
Rau khúc là một loài rau dại, mọc nhiều vào mùa xuân nhất là từ đầu tháng 2 âm lịch tới Tết thanh minh. Rau khúc có hai loại là khúc tẻ và khúc nếp. Nhưng để làm bánh khúc thì nhất thiết phải chọn được lá khúc nếp để bánh thơm ngon và có vị đặc trưng. Rau hái từ ruộng về phải chế biến ngay. Gạo tẻ và nếp phải được ngâm từ đêm hôm trước, cứ hai phần gạo nếp lại cho thêm một phần gạo tẻ. Nguyên liệu làm bánh khúc chỉ gồm: gạo, đỗ xanh, thịt lợn cộng với gia vị.
Rau khúc đã nhuyễn được đem trộn lẫn với bột gạo, sau đó đem nặn thành bánh khúc. Nhân bánh là đỗ xanh giã mịn và một miếng nhỏ mỡ lợn đã được xào thơm với hành. Thịt mỡ phải là thịt mỡ gáy để bánh ăn vừa đủ ngậy mà không bị ngán. Đặc biệt có một loại gia vị không thể thiếu khi làm bánh khúc dịp Tết Lùng Cùng, đó là hạt tiêu. Hương hạt tiêu đậm đà quyện với vị rau khúc độc đáo tạo thành vị ngon riêng biệt của bánh khúc nơi đây.
Bánh mới nặn xong lớp vỏ còn dẻo dính sẽ được lăn qua một lớp gạo nếp đã được ngâm kỹ, thường gọi là áo bánh; sau đó gói hờ vào tấm lá chuối tươi rồi xếp chồng lên nhau, đem đi đồ trong chõ xôi. Bánh khúc ngon nhất khi ăn nóng và có thể để đến hai ngày mà vỏ bánh vẫn mềm, dẻo dai.
Hằng năm, cứ vào Tết Lùng Cùng, người dân xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định dù có đi làm nơi đâu cũng hướng vê quê nhà, cũng nhớ tới hương vị đặc trưng của món bánh khúc như để tri ân với tổ tiên và tự nhắc mình không quên cội nguồn.
Đã từ lâu lắm, Tết Lùng Cùng đã tồn tại trong tâm thức mỗi người dân Vụ Bản, tạo thành nét đẹp văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng quê Nam Định.
Xem thêm >
Theo chuyên trang lễ hội Cinet
Du lịch, GO!
Tết Lùng Cùng còn có tên gọi khác là Tết Bánh Khúc hay Tết Vỗ bồ, là dịp lễ truyền thống của nhân dân 3 thôn Thượng, Tâm, Tiền xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định. Tích xưa kể rằng: khi xưa vùng đất này thuộc trấn Sơn Nam Hạ, sinh ra một vị tướng danh tiếng, tài giỏi, cả cuộc đời hiến dâng cho sự nghiệp bảo vệ bờ cõi dân tộc. Có một năm ông và quân sĩ không thể về ăn Tết cùng gia đình vì phải lo đánh dẹp giặc ngoại bang.
Đầu tháng 2 (âm lịch) năm đó, đội quân do ông làm thủ lĩnh đã giành chiến thắng, ông quyết định tổ chức ăn mừng. Song vì đánh giặc dài ngày, lương thảo dự trữ không còn nhiều, ông đã nghĩ ra cách giã rau khúc để trộn thêm với gạo nếp làm thành chiếc bánh khúc để tế cáo trời đất, sau đó phát cho quân sĩ và nhân dân nơi đây.
Thời gian trôi qua, cho đến nay, Tết Lùng Cùng vẫn được tổ chức để tri ân công đức tổ tiên và là ngày cả gia đình sum họp. Trong ngày này, món bánh khúc thay thể cho bánh chưng, bánh dày trong Tết âm lịch để dâng lên tổ tiên.Rau khúc là một loài rau dại, mọc nhiều vào mùa xuân nhất là từ đầu tháng 2 âm lịch tới Tết thanh minh. Rau khúc có hai loại là khúc tẻ và khúc nếp. Nhưng để làm bánh khúc thì nhất thiết phải chọn được lá khúc nếp để bánh thơm ngon và có vị đặc trưng. Rau hái từ ruộng về phải chế biến ngay. Gạo tẻ và nếp phải được ngâm từ đêm hôm trước, cứ hai phần gạo nếp lại cho thêm một phần gạo tẻ. Nguyên liệu làm bánh khúc chỉ gồm: gạo, đỗ xanh, thịt lợn cộng với gia vị.
Rau khúc đã nhuyễn được đem trộn lẫn với bột gạo, sau đó đem nặn thành bánh khúc. Nhân bánh là đỗ xanh giã mịn và một miếng nhỏ mỡ lợn đã được xào thơm với hành. Thịt mỡ phải là thịt mỡ gáy để bánh ăn vừa đủ ngậy mà không bị ngán. Đặc biệt có một loại gia vị không thể thiếu khi làm bánh khúc dịp Tết Lùng Cùng, đó là hạt tiêu. Hương hạt tiêu đậm đà quyện với vị rau khúc độc đáo tạo thành vị ngon riêng biệt của bánh khúc nơi đây.
Bánh mới nặn xong lớp vỏ còn dẻo dính sẽ được lăn qua một lớp gạo nếp đã được ngâm kỹ, thường gọi là áo bánh; sau đó gói hờ vào tấm lá chuối tươi rồi xếp chồng lên nhau, đem đi đồ trong chõ xôi. Bánh khúc ngon nhất khi ăn nóng và có thể để đến hai ngày mà vỏ bánh vẫn mềm, dẻo dai.
Hằng năm, cứ vào Tết Lùng Cùng, người dân xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định dù có đi làm nơi đâu cũng hướng vê quê nhà, cũng nhớ tới hương vị đặc trưng của món bánh khúc như để tri ân với tổ tiên và tự nhắc mình không quên cội nguồn.
Đã từ lâu lắm, Tết Lùng Cùng đã tồn tại trong tâm thức mỗi người dân Vụ Bản, tạo thành nét đẹp văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng quê Nam Định.
Xem thêm >
Theo chuyên trang lễ hội Cinet
Du lịch, GO!
Lễ hội Từ Lương Xâm
(Cinet) - Lễ hội Từ Lương Xâm được diễn ra trong các ngày 14, 15 và 16 tháng Giêng hàng năm tại phường Nam Hải, quận Hải An. Đây là dịp để nhân dân ta ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc và tấm gương, công đức của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền.
Lịch sử thành văn khẳng định: Vào cuối năm 938, sau khi diệt trừ giặc Kiều Công Tiễn ở Đại La (Hà Nội ngày nay), Ngô Quyền kéo đại quân về vùng cửa sông Bạch Đằng xây dựng thế trận đón đánh quân xâm lược Nam Hán. Ông đã triệt để lợi dụng đặc điểm địa hình phức tạp ở vùng cửa biển này để thiết lập trận địa thủy chiến quy mô lớn, đủ khả năng chôn vùi toàn bộ hàng trăm thuyền chiến giặc.
Ông huy động quân dân đẵn gỗ, vót nhọn, bịt sắt đóng thành một bãi cọc ở cửa sông Bạch Đằng. Quân thủy bộ với sự tham gia của các lực lượng dân binh, bố trí mai phục sẵn phía bên trong bãi cọc, vùng hạ lưu sông. Một đội thuyền nhẹ dưới sự chỉ huy của người thanh niên Gia Viên là Ngô Tất Tố, vốn giỏi bơi lội và quen thuộc sông nước, được giao nhiệm vụ khiêu chiến, nhân lúc nước triều lên nhử giặc vượt qua bãi cọc, dấn thân vào cạm bẫy của ta. Và điều diệu kỳ đã đến, đó là trận đánh diễn ra đúng như diệu kế của Ngô Quyền.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 nhanh gọn, bất ngờ đến mức vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới mà không kịp trở tay đối phó. Chiến thắng Bạch Đằng gấp lại trang sử hào hùng của dân tộc ta trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa, đấu tranh giành lại độc lập dân tộc.
Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và sự gắn kết máu thịt Nhà - Làng - Nước nên rất tự nhiên Ngô Quyền trở thành thành hoàng, thần chủ của vùng đất cửa sông Bạch Đằng. Ở vùng đất này, mặc dù nhiều làng xã cũ không còn, nhiều làng mới xuất hiện, dân cư đã trải qua nhiều lần thay đổi, xáo trộn nhưng hầu như không có làng nào, xã nào, phố nào không thờ Ngô Quyền.
Hình ảnh Ngô Quyền đã trở thành gần gũi, thân thuộc với mỗi xóm thôn, làng xã, phố phường và người dân vùng đất ông lập chiến công xưa. Ở vùng đất này, mỗi làng mới được lập ra là lại thêm một làng thờ Ngô Quyền. Nhân dân nhiều làng xã vẫn còn giữ được đạo sắc của vua Tự Đức phong cho 17 xã thờ Ngô Vương vào năm 1880.
Nội dung bản “Tiền Ngô Vương thiên tử ngọc phả lục” hiện lưu tại Từ Lương Xâm cho biết: Khi kéo quân về cửa biển Bạch Đằng bố trí thế trận, Ngô Quyền sớm nhận ra vị trí chiến lược quan trọng của làng Dầm - tức làng Lương Xâm (tên cũ là Lãng Thâm) bây giờ.
Tại đây, ông đặt một đồn quân lớn là đại bản doanh chỉ huy tiền phương (còn đồn chỉ huy sở được đặt tại làng Cấm (tên chữ là Gia Viên) - khu vực trụ sở UBND TP hiện nay), huy động nhân dân đắp thành vành kiệu, dấu vết nay vẫn còn.
Trong trường tồn, có không ít giai đoạn, thời kỳ lịch sử, lễ hội Từ Lương Xâm (tổ chức từ ngày 16 đến 18 tháng Giêng) đã trở thành ý thức tình cảm cao nhất khi tâm linh người Hải Phòng hướng về tổ tiên, nguồn cội của mình. Lễ hội Từ Lương Xâm đã trở thành lời nhắc nhở, tiếng thúc giục hàng triệu con tim, khối óc từ già, trẻ, gái, trai tìm về ngưỡng vọng, nhất là mỗi khi nền độc lập dân tộc bị đe dọa, đất nước lâm nguy trước giặc ngoại xâm, trời làm hạn hán, gặp bão dông biển động, nghề nông - ngư thất bát.
Khác với lễ hội của các làng xã khác, lễ hội Từ Lương Xâm được tiến hành với sự tham gia của hầu hết các làng xã trong vùng. Xưa kia, sau khi đã tiến hành nghi thức quốc lễ tại từ Lương Xâm thì đến lượt các tổng, các làng xã xung quanh tổ chức tế lễ Ngô Vương; về cấp độ, việc tế lễ Ngô Quyền do 3 cấp tiến hành: của nhà nước (thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần) sau này do hàng huyện đảm nhiệm, của hàng tổng và của dân làng sở tại.
Trong lễ hội từ Lương Xâm, cuộc hành lễ của hàng chục làng xã rước kiệu từ đình làng mình tới chầu đã tạo nên sự xúc động tâm linh hướng về cội nguồn mạnh mẽ. Tất cả các kiệu đều đặt ở khu đất rộng trước cửa Linh từ Lương Xâm để chấm giải. Kiệu nào nhất thì lần sau được vinh dự thay mặt cả đoàn kiệu đứng dâng lễ Thánh Vương trước long sàng.
Nghi thức tế đám Ngô Vương ở từ Lương Xâm khá đặc biệt: lễ phẩm phải có một bò, một lợn, một dê mổ tế sống (cỗ thái lao), tế xong đem số thịt đó làm cỗ ăn tại đền và chia cho dân đinh; vào những năm “phong đăng hòa cốc” ở từ Lương Xâm còn có lệ hợp tế hàng huyện, hợp tế hàng tổng.
Trong lễ hội có nhiều tiết mục văn nghệ, biểu diễn ca múa nhạc dân tộc tái hiện lại chiến thắng Bạch Đằng, các trò chơi dân gian: bịt mắt đập niêu, bịt mắt bắt dê, đu xuân, cờ tướng, cờ người, tổ chức giải bóng đá, bóng chuyền…
Xem thêm >
Theo Cinet.vn
Du lịch, GO!
Lịch sử thành văn khẳng định: Vào cuối năm 938, sau khi diệt trừ giặc Kiều Công Tiễn ở Đại La (Hà Nội ngày nay), Ngô Quyền kéo đại quân về vùng cửa sông Bạch Đằng xây dựng thế trận đón đánh quân xâm lược Nam Hán. Ông đã triệt để lợi dụng đặc điểm địa hình phức tạp ở vùng cửa biển này để thiết lập trận địa thủy chiến quy mô lớn, đủ khả năng chôn vùi toàn bộ hàng trăm thuyền chiến giặc.
Ông huy động quân dân đẵn gỗ, vót nhọn, bịt sắt đóng thành một bãi cọc ở cửa sông Bạch Đằng. Quân thủy bộ với sự tham gia của các lực lượng dân binh, bố trí mai phục sẵn phía bên trong bãi cọc, vùng hạ lưu sông. Một đội thuyền nhẹ dưới sự chỉ huy của người thanh niên Gia Viên là Ngô Tất Tố, vốn giỏi bơi lội và quen thuộc sông nước, được giao nhiệm vụ khiêu chiến, nhân lúc nước triều lên nhử giặc vượt qua bãi cọc, dấn thân vào cạm bẫy của ta. Và điều diệu kỳ đã đến, đó là trận đánh diễn ra đúng như diệu kế của Ngô Quyền.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 nhanh gọn, bất ngờ đến mức vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới mà không kịp trở tay đối phó. Chiến thắng Bạch Đằng gấp lại trang sử hào hùng của dân tộc ta trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa, đấu tranh giành lại độc lập dân tộc.
Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và sự gắn kết máu thịt Nhà - Làng - Nước nên rất tự nhiên Ngô Quyền trở thành thành hoàng, thần chủ của vùng đất cửa sông Bạch Đằng. Ở vùng đất này, mặc dù nhiều làng xã cũ không còn, nhiều làng mới xuất hiện, dân cư đã trải qua nhiều lần thay đổi, xáo trộn nhưng hầu như không có làng nào, xã nào, phố nào không thờ Ngô Quyền.
Hình ảnh Ngô Quyền đã trở thành gần gũi, thân thuộc với mỗi xóm thôn, làng xã, phố phường và người dân vùng đất ông lập chiến công xưa. Ở vùng đất này, mỗi làng mới được lập ra là lại thêm một làng thờ Ngô Quyền. Nhân dân nhiều làng xã vẫn còn giữ được đạo sắc của vua Tự Đức phong cho 17 xã thờ Ngô Vương vào năm 1880.Nội dung bản “Tiền Ngô Vương thiên tử ngọc phả lục” hiện lưu tại Từ Lương Xâm cho biết: Khi kéo quân về cửa biển Bạch Đằng bố trí thế trận, Ngô Quyền sớm nhận ra vị trí chiến lược quan trọng của làng Dầm - tức làng Lương Xâm (tên cũ là Lãng Thâm) bây giờ.
Tại đây, ông đặt một đồn quân lớn là đại bản doanh chỉ huy tiền phương (còn đồn chỉ huy sở được đặt tại làng Cấm (tên chữ là Gia Viên) - khu vực trụ sở UBND TP hiện nay), huy động nhân dân đắp thành vành kiệu, dấu vết nay vẫn còn.
Trong trường tồn, có không ít giai đoạn, thời kỳ lịch sử, lễ hội Từ Lương Xâm (tổ chức từ ngày 16 đến 18 tháng Giêng) đã trở thành ý thức tình cảm cao nhất khi tâm linh người Hải Phòng hướng về tổ tiên, nguồn cội của mình. Lễ hội Từ Lương Xâm đã trở thành lời nhắc nhở, tiếng thúc giục hàng triệu con tim, khối óc từ già, trẻ, gái, trai tìm về ngưỡng vọng, nhất là mỗi khi nền độc lập dân tộc bị đe dọa, đất nước lâm nguy trước giặc ngoại xâm, trời làm hạn hán, gặp bão dông biển động, nghề nông - ngư thất bát.Khác với lễ hội của các làng xã khác, lễ hội Từ Lương Xâm được tiến hành với sự tham gia của hầu hết các làng xã trong vùng. Xưa kia, sau khi đã tiến hành nghi thức quốc lễ tại từ Lương Xâm thì đến lượt các tổng, các làng xã xung quanh tổ chức tế lễ Ngô Vương; về cấp độ, việc tế lễ Ngô Quyền do 3 cấp tiến hành: của nhà nước (thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần) sau này do hàng huyện đảm nhiệm, của hàng tổng và của dân làng sở tại.
Trong lễ hội từ Lương Xâm, cuộc hành lễ của hàng chục làng xã rước kiệu từ đình làng mình tới chầu đã tạo nên sự xúc động tâm linh hướng về cội nguồn mạnh mẽ. Tất cả các kiệu đều đặt ở khu đất rộng trước cửa Linh từ Lương Xâm để chấm giải. Kiệu nào nhất thì lần sau được vinh dự thay mặt cả đoàn kiệu đứng dâng lễ Thánh Vương trước long sàng.Nghi thức tế đám Ngô Vương ở từ Lương Xâm khá đặc biệt: lễ phẩm phải có một bò, một lợn, một dê mổ tế sống (cỗ thái lao), tế xong đem số thịt đó làm cỗ ăn tại đền và chia cho dân đinh; vào những năm “phong đăng hòa cốc” ở từ Lương Xâm còn có lệ hợp tế hàng huyện, hợp tế hàng tổng.
Trong lễ hội có nhiều tiết mục văn nghệ, biểu diễn ca múa nhạc dân tộc tái hiện lại chiến thắng Bạch Đằng, các trò chơi dân gian: bịt mắt đập niêu, bịt mắt bắt dê, đu xuân, cờ tướng, cờ người, tổ chức giải bóng đá, bóng chuyền…
Xem thêm >
Theo Cinet.vn
Du lịch, GO!
Độc đáo lễ hội đấu ngựa Hà Giang
(NLĐO) - Đua ngựa đã có từ rất lâu, thế nhưng đấu ngựa lại là một truyền thống chỉ có duy nhất tại xã Bằng Hành huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
Ngày 17 và 18 -8, UBND xã Bằng Hành và Công ty TNHH Hướng Dương đã tổ chức giải đấu ngựa lần thứ nhất tại khu du lịch sinh thái Thủy Lâm Viên thuộc xã Bằng Hành. Giải đấu này vốn truyền thống của địa phương nhưng đã thất truyền từ khá lâu. Từ mờ sáng, bà con xã Bằng Hành và các xã lân cận đã đổ đến khu du lịch Thủy Lâm Viên, xã Bằng Hành, huyện Bắc Quang, Hà Giang để dự giải đấu ngựa lần thứ nhất.
Với 30 con tuấn mã được tuyển lựa qua vòng sơ khảo. Giải đấu ngựa chính thức, với 15 cặp ngựa của chủ ngựa tại các xã thuộc tiểu khu Trọng Con, các huyện trong tỉnh và các huyện bạn như Lâm Bình, Nà Hang, Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang, huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai, huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái tham gia thi đấu.
Thể thức thi đấu loại trực tiếp để chọn lựa các cặp ngựa chiến thắng thi đấu vòng chung kết. Số "đấu sĩ" ngựa này sẽ được chủ bốc thăm thi đấu đối kháng theo hình thức "cắn, đá, lao bổ vào nhau" cho đến khi một con bỏ chạy.
Cũng như nhiều người dân khác đang rất háo hức xem giải đấu ngựa, ông Lương Trung Nghĩa đã đến từ rất sớm để thưởng thức những màn thi đấu quyết liệt và độc đáo có một không hai này. Ông cho hay: “Truyền thống đấu ngựa của đồng bào Tày thuộc tiểu khu Trọng Con đã có từ xa xưa, nhưng do nhu cầu đời sống đã bị mai một dần bản sắc này. Hôm nay người dân chúng tôi vô cùng phấn khởi khi được tham dự lại lễ hội chọi ngựa này”.
Ông Vũ Văn Phú – một chủ ngựa tại Hàm Yên – tỉnh Tuyên Quang, cho hay: “Việc khôi phục giải đấu ngựa với quy mô hoành tráng đã góp phần lưu giữ truyền thống quý báu của dân tộc Tày nên chắc chắn chủ ngựa chúng tôi sẽ tiếp tục tham gia giải đấu này hằng năm”.
Giải đấu ngựa xã Bằng Hành lần thứ nhất đã thu hút đông đảo khán giả khắp vùng Tiểu khu Trọng Con, cùng người dân trong và ngoài tỉnh đến cổ vũ.
Những chú ngựa ngày thường là những người bạn đắc lực cho người nông dân sản xuất, thì nay trên “xới đấu” rất dũng mãnh với những phá đấu đầy kịch tính, quyết liệt, đẹp mắt thu trọn những ánh mắt háo hức, hiếu kỳ của khán giả về sự kiện mang tính văn hóa độc đáo, có lẽ chỉ có duy nhất ở tiểu khu Trọng Con.
Kết thúc giải đấu ban tổ chức đã trao các giải Nhất, Nhì, Ba và giải phong cách cho các chú tuấn mã và chủ ngựa tham gia giải đấu. Chú ngựa giành giải Nhất sẽ được thưởng 25 triệu đồng.
Đây là một hoạt động văn hóa-thể thao hết sức độc đáo của huyện Bắc Quang. Đại diện đơn vị tổ chức cho hay, ngoài mục đích thu hút khách du lịch, quảng bá thương hiệu du lịch Hà Giang, giải đấu ngựa này còn hướng đến việc bảo tồn văn hóa, phát triển đàn ngựa để phát triển kinh tế, giải phóng sức người. Vì vậy, từ năm 2014: giải đấu ngựa thường niên sẽ được tổ chức vào rằm tháng giêng và rằm tháng 7 âm lịch hằng năm tại khu du lịch sinh thái Thủy Lâm Viên để phục vụ bà con và du khách thập phương.
Xem thêm >
Theo Nguyễn Trường Giang, Lý Tài Nái (Báo Người Lao Động)
Du lịch, GO!
Ngày 17 và 18 -8, UBND xã Bằng Hành và Công ty TNHH Hướng Dương đã tổ chức giải đấu ngựa lần thứ nhất tại khu du lịch sinh thái Thủy Lâm Viên thuộc xã Bằng Hành. Giải đấu này vốn truyền thống của địa phương nhưng đã thất truyền từ khá lâu. Từ mờ sáng, bà con xã Bằng Hành và các xã lân cận đã đổ đến khu du lịch Thủy Lâm Viên, xã Bằng Hành, huyện Bắc Quang, Hà Giang để dự giải đấu ngựa lần thứ nhất.
Với 30 con tuấn mã được tuyển lựa qua vòng sơ khảo. Giải đấu ngựa chính thức, với 15 cặp ngựa của chủ ngựa tại các xã thuộc tiểu khu Trọng Con, các huyện trong tỉnh và các huyện bạn như Lâm Bình, Nà Hang, Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang, huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai, huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái tham gia thi đấu.
Thể thức thi đấu loại trực tiếp để chọn lựa các cặp ngựa chiến thắng thi đấu vòng chung kết. Số "đấu sĩ" ngựa này sẽ được chủ bốc thăm thi đấu đối kháng theo hình thức "cắn, đá, lao bổ vào nhau" cho đến khi một con bỏ chạy.
Cũng như nhiều người dân khác đang rất háo hức xem giải đấu ngựa, ông Lương Trung Nghĩa đã đến từ rất sớm để thưởng thức những màn thi đấu quyết liệt và độc đáo có một không hai này. Ông cho hay: “Truyền thống đấu ngựa của đồng bào Tày thuộc tiểu khu Trọng Con đã có từ xa xưa, nhưng do nhu cầu đời sống đã bị mai một dần bản sắc này. Hôm nay người dân chúng tôi vô cùng phấn khởi khi được tham dự lại lễ hội chọi ngựa này”.
Ông Vũ Văn Phú – một chủ ngựa tại Hàm Yên – tỉnh Tuyên Quang, cho hay: “Việc khôi phục giải đấu ngựa với quy mô hoành tráng đã góp phần lưu giữ truyền thống quý báu của dân tộc Tày nên chắc chắn chủ ngựa chúng tôi sẽ tiếp tục tham gia giải đấu này hằng năm”.
Giải đấu ngựa xã Bằng Hành lần thứ nhất đã thu hút đông đảo khán giả khắp vùng Tiểu khu Trọng Con, cùng người dân trong và ngoài tỉnh đến cổ vũ.
Những chú ngựa ngày thường là những người bạn đắc lực cho người nông dân sản xuất, thì nay trên “xới đấu” rất dũng mãnh với những phá đấu đầy kịch tính, quyết liệt, đẹp mắt thu trọn những ánh mắt háo hức, hiếu kỳ của khán giả về sự kiện mang tính văn hóa độc đáo, có lẽ chỉ có duy nhất ở tiểu khu Trọng Con.
Kết thúc giải đấu ban tổ chức đã trao các giải Nhất, Nhì, Ba và giải phong cách cho các chú tuấn mã và chủ ngựa tham gia giải đấu. Chú ngựa giành giải Nhất sẽ được thưởng 25 triệu đồng.
Đây là một hoạt động văn hóa-thể thao hết sức độc đáo của huyện Bắc Quang. Đại diện đơn vị tổ chức cho hay, ngoài mục đích thu hút khách du lịch, quảng bá thương hiệu du lịch Hà Giang, giải đấu ngựa này còn hướng đến việc bảo tồn văn hóa, phát triển đàn ngựa để phát triển kinh tế, giải phóng sức người. Vì vậy, từ năm 2014: giải đấu ngựa thường niên sẽ được tổ chức vào rằm tháng giêng và rằm tháng 7 âm lịch hằng năm tại khu du lịch sinh thái Thủy Lâm Viên để phục vụ bà con và du khách thập phương.
Xem thêm >
Theo Nguyễn Trường Giang, Lý Tài Nái (Báo Người Lao Động)
Du lịch, GO!
Hang Bua: Truyền thuyết và lễ hội
(Văn hóa Nghệ An) - Hang Bua (tiếng Thái gọi là thẳm Bua) là một thắng cảnh đẹp của miền Tây Nghệ An, trên dãy núi đá vôi “Phà Én” thuộc bản Na Nhàng (Hồng tiến), xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu, cách TP Vinh 170 km về phía Tây Bắc.
< Hang Bua - Nghệ An.
Tên hang được gọi theo tên bản nên có tên là hang Bua. Hang Bua được hình thành trong quá trình kiến tạo địa tầng cách đây hàng triệu năm, từ thuở thời đất mới khai thiên lập địa. Xưa kia, nơi đây là vùng đất trù phú, người dân được thần núi che chở nên cuộc sống yên bình, no ấm, hạnh phúc.
Hang Bua là một thắng cảnh tự nhiên gắn với truyền thuyết lịch sử, phong tục, tập quán, sinh hoạt văn hóa của của đồng bào dân tộc Thái xưa và là một trong những di tích khảo cổ ở Nghệ An chứa đựng dấu tích văn hóa của nhiều thời đại.
Trong lớp trầm tích tìm thấy ở hai cửa hang trước và sau có hóa thạch các loài động vật giống như hóa thạch động vật đã được phát hiện ở Thăm Ồm và các hàng động khác trong vùng, đó là: tê giác, hươu nai, lợn rừng, cheo chèo…
Đặc biệt, những người dân địa phương còn nhặt được trong hang hai chiếc rìu đá - loại công cụ đặc trưng của con người thời kỳ đồ đá mới hậu kỳ. Hang Bua là nơi giao hòa, gặp gỡ của đất trời, là vẻ đẹp kỳ vĩ mà tạo hóa ban tặng cho con người.
Trong hang còn lưu giữ nhiều hình khối kỳ thú, tượng trưng những huyền thoại đặc sắc như Thần Núi (Phí - Nu - Phá - Hủng) và thần nước (Phí - Nặm - Huồi - Hạ) giao tranh. Chuyện tình Tạo Khủn - Tinh và nàng Ni (nàng Ni vào hang tìm và chờ đợi người yêu cho đến khi hóa đá)…
Đến hang Bua, ta sẽ cảm nhận được vẻ đẹp của phong cảnh sơn thủy hữu tình, núi sông, cỏ cây xanh ngát một màu. Cửa chính hang Bua quay mặt về hướng Nam, phía trước là thung lũng Chiềng Ngam rộng lớn, với những bản làng của người Thái sầm uất, yên vui.
Đây cũng là nơi gặp nhau của 3 con sông: Sông Quàng, sông Việt và sông Hạt để rồi hợp lưu thành sông Hiếu thơ mộng uốn mình chảy qua các huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn đổ về song Lam cùng xuôi ra biển Đông.
Khí hậu nơi đây mát mẻ, cây cối tốt tươi muôn sắc, muôn loài muông thú tụ họp về đây. Hang Bua có 3 cửa: Cửa chính, cửa phụ và cửa sau. Cửa chính và cửa phụ có hình bông hoa sen nên còn được gọi là “Boọc Bua”. Diện tích hang rộng, có thể chứa được hàng trăm người nhảy múa, hát hò. Vào sâu trong hang, ta sẽ được chiêm ngưỡng sự kiến tạo tuyệt vời của tạo hóa: Những hình thù kỳ lạ, những mô đá hình người và những dụng cụ sinh hoạt thời xưa của cư dân Thái như bó lúa, cái liềm…
Người xưa kể rằng, trong một trận đại hồng thủy, con người đã vào hang trú ngụ, họ cùng nhau ca hát, nhảy múa, đánh cồng chiêng, thổi sáo để không ngủ gật, như thế sẽ không bị hóa đá theo lời nguyền. Nhưng sức người có hạn, tất cả đều đã hóa đá, vì thế mà trong hang có những hình thù giống những sinh hoạt của người xưa như ông già thổi sáo, bộ cồng chiêng, cây cổ thụ bằng đá tỏa bóng, thửa ruộng hình bậc thang, v.v…
Trong hang còn có giếng tiên với nguồn nước mát lạnh, mùa hè khi trời nóng bức, uống một ngụm nước trong hang ta sẽ cảm thấy vô cùng khoan khoái, dễ chịu.
Không chỉ là một thắng cảnh đẹp, hang Bua còn nổi tiếng với hoạt động văn hóa lễ hội sôi động vào đầu xuân. Lễ hội hang Bua có từ lâu đời, đến nay chưa thấy có tài liệu nào cho biết chính xác thời gian ra đời của lễ hội. Nhưng chắc chắn rằng, những nghi thức tín ngưỡng dân gian mà người dân địa phương tiến hành trước hang Bua tạo nên “Hồn cốt” của các lễ nghi sau này, cũng như tục trai gái đầu xuân rủ nhau đi chơi và tình tự trong hang là gốc gác của phần hội.
Theo các cụ già kể lại, trước mặt hang Bua có bãi đất bằng phẳng, có cây thị cổ thụ và ngôi đền lớn tên là Tẻn Bò.
Hàng năm, vào tháng 1 (lịch Thái), dân bản chọn ngày tốt để cúng tế thần linh, như Thần núi, những người có công khai bản lập mường, những linh hồn người chết trận và hai anh em Cầm Lư, Cầm Lạn là người có công dẫn dắt người Thái đến đây định cư. Năm 1937, vua Bảo Đại đến thăm hang Bua, hội xuân năm đó rất to. Ngoài những trò chơi dân gian có từ trước, người ta còn tổ chức thi người đẹp, thi dệt thổ cẩm.
Một thời gian dài hội hang Bua không được tổ chức. Sau khi hang Bua được công nhận là danh thắng Quốc gia, bắt đầu từ năm 1997, lễ hội hang Bua được phục hồi và duy trì cho đến ngày nay. Vào các ngày từ 20-23 tháng giêng ÂL hàng năm, hang Bua lại tưng bừng vào hội.
Trước khi khai hội, thầy mo làm lễ cầu xin thần núi, thần hang cho phép mở cửa hang để “trai gái được vào chơi, cầu cho thành đôi hạnh phúc, lúa tốt như rừng gianh đầu bản”, rồi mọi người vào hang quét dọn. Sau này, khi có đền thờ mường Chiềng Ngam, còn có các lễ yết cáo, lễ đại tế và lễ tạ diễn ra tại đền nhằm tưởng nhớ công ơn những người có công khai bản lập mường.
Hội hang Bua mang đậm bản sắc của đồng bào Thái với nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian cổ truyền của cư dân miền sơn cước, như: chơi hang, ném còn, khắc luống, chơi tọ lẹ, biểu diễn cồng chiêng, nhảy sạp, thi bắn nỏ, thi đi cà kheo, thi hát các làn điệu dân ca: nhuôn, xuối, lăm, khắp; thi người đẹp hang Bua, biểu diễn trang phục truyền thống, thi uống rượu cần.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, lễ hội hang Bua được tổ chức với quy mô ngày càng lớn và có nhiều nét mới trong tổ chức cũng như trong các hoạt động, tạo điều kiện cho nhân dân, nhất là lớp trẻ tham gia sáng tạo các giá trị văn hóa, đáp ửng nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và du khách gần xa. Nhiều trò chơi mới được đưa vào hội, như thi đấu bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, đẩy gậy, kéo co, đu quay; chiếu phim; thi văn hóa ẩm thực; thi cuốn hương trầm; thi dệt thổ cẩm; thi cắm trại; thi viết chữ Thái; thi văn hóa rượu cần; tham quan các di tích lịch sử văn hóa trong vùng.
Công tác tổ chức mỗi năm một chu đáo, bài bản hơn. Chất lượng các hoạt động cũng được nâng lên qua từng năm. Từng phần thi, mỗi năm cũng có những nét mới tăng nhằm tính hấp dẫn hơn.
Ví dụ như phần thi văn hóa ẩm thực, năm thì thi làm mâm cỗ ngày tết, năm thì thi chế biến các món ăn đặc sản truyền thống và thuyết trình ý nghĩa các món ăn cũng là nội dung thi không thể thiếu. Phần thi văn hóa rượu cần cũng có nhiều nét mới, như: uống rượu cần trong cưới hỏi, trong lễ mừng nhà mới, trong lễ hội... với các hình thức diễn xướng khác nhau của các thầy mo, của người làm cham. Việc đưa nội dung thi thêu dệt, xe sợi, thi đan lát, thi cuốn hương trầm… vào hoạt động của lễ hội cũng là những nét mới nhằm quảng bá, giới thiệu với du khách về nghề truyền thống của Quỳ Châu...
Xem thêm >
Theo Mai Hương - Tạp chí Văn Hóa Nghệ An
Du lịch, GO!
< Hang Bua - Nghệ An.
Tên hang được gọi theo tên bản nên có tên là hang Bua. Hang Bua được hình thành trong quá trình kiến tạo địa tầng cách đây hàng triệu năm, từ thuở thời đất mới khai thiên lập địa. Xưa kia, nơi đây là vùng đất trù phú, người dân được thần núi che chở nên cuộc sống yên bình, no ấm, hạnh phúc.
Trong lớp trầm tích tìm thấy ở hai cửa hang trước và sau có hóa thạch các loài động vật giống như hóa thạch động vật đã được phát hiện ở Thăm Ồm và các hàng động khác trong vùng, đó là: tê giác, hươu nai, lợn rừng, cheo chèo…
Đặc biệt, những người dân địa phương còn nhặt được trong hang hai chiếc rìu đá - loại công cụ đặc trưng của con người thời kỳ đồ đá mới hậu kỳ. Hang Bua là nơi giao hòa, gặp gỡ của đất trời, là vẻ đẹp kỳ vĩ mà tạo hóa ban tặng cho con người.
Trong hang còn lưu giữ nhiều hình khối kỳ thú, tượng trưng những huyền thoại đặc sắc như Thần Núi (Phí - Nu - Phá - Hủng) và thần nước (Phí - Nặm - Huồi - Hạ) giao tranh. Chuyện tình Tạo Khủn - Tinh và nàng Ni (nàng Ni vào hang tìm và chờ đợi người yêu cho đến khi hóa đá)…Đến hang Bua, ta sẽ cảm nhận được vẻ đẹp của phong cảnh sơn thủy hữu tình, núi sông, cỏ cây xanh ngát một màu. Cửa chính hang Bua quay mặt về hướng Nam, phía trước là thung lũng Chiềng Ngam rộng lớn, với những bản làng của người Thái sầm uất, yên vui.
Đây cũng là nơi gặp nhau của 3 con sông: Sông Quàng, sông Việt và sông Hạt để rồi hợp lưu thành sông Hiếu thơ mộng uốn mình chảy qua các huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn đổ về song Lam cùng xuôi ra biển Đông.
Khí hậu nơi đây mát mẻ, cây cối tốt tươi muôn sắc, muôn loài muông thú tụ họp về đây. Hang Bua có 3 cửa: Cửa chính, cửa phụ và cửa sau. Cửa chính và cửa phụ có hình bông hoa sen nên còn được gọi là “Boọc Bua”. Diện tích hang rộng, có thể chứa được hàng trăm người nhảy múa, hát hò. Vào sâu trong hang, ta sẽ được chiêm ngưỡng sự kiến tạo tuyệt vời của tạo hóa: Những hình thù kỳ lạ, những mô đá hình người và những dụng cụ sinh hoạt thời xưa của cư dân Thái như bó lúa, cái liềm…Người xưa kể rằng, trong một trận đại hồng thủy, con người đã vào hang trú ngụ, họ cùng nhau ca hát, nhảy múa, đánh cồng chiêng, thổi sáo để không ngủ gật, như thế sẽ không bị hóa đá theo lời nguyền. Nhưng sức người có hạn, tất cả đều đã hóa đá, vì thế mà trong hang có những hình thù giống những sinh hoạt của người xưa như ông già thổi sáo, bộ cồng chiêng, cây cổ thụ bằng đá tỏa bóng, thửa ruộng hình bậc thang, v.v…
Trong hang còn có giếng tiên với nguồn nước mát lạnh, mùa hè khi trời nóng bức, uống một ngụm nước trong hang ta sẽ cảm thấy vô cùng khoan khoái, dễ chịu.
Không chỉ là một thắng cảnh đẹp, hang Bua còn nổi tiếng với hoạt động văn hóa lễ hội sôi động vào đầu xuân. Lễ hội hang Bua có từ lâu đời, đến nay chưa thấy có tài liệu nào cho biết chính xác thời gian ra đời của lễ hội. Nhưng chắc chắn rằng, những nghi thức tín ngưỡng dân gian mà người dân địa phương tiến hành trước hang Bua tạo nên “Hồn cốt” của các lễ nghi sau này, cũng như tục trai gái đầu xuân rủ nhau đi chơi và tình tự trong hang là gốc gác của phần hội.
Theo các cụ già kể lại, trước mặt hang Bua có bãi đất bằng phẳng, có cây thị cổ thụ và ngôi đền lớn tên là Tẻn Bò.
Hàng năm, vào tháng 1 (lịch Thái), dân bản chọn ngày tốt để cúng tế thần linh, như Thần núi, những người có công khai bản lập mường, những linh hồn người chết trận và hai anh em Cầm Lư, Cầm Lạn là người có công dẫn dắt người Thái đến đây định cư. Năm 1937, vua Bảo Đại đến thăm hang Bua, hội xuân năm đó rất to. Ngoài những trò chơi dân gian có từ trước, người ta còn tổ chức thi người đẹp, thi dệt thổ cẩm.
Một thời gian dài hội hang Bua không được tổ chức. Sau khi hang Bua được công nhận là danh thắng Quốc gia, bắt đầu từ năm 1997, lễ hội hang Bua được phục hồi và duy trì cho đến ngày nay. Vào các ngày từ 20-23 tháng giêng ÂL hàng năm, hang Bua lại tưng bừng vào hội.
Trước khi khai hội, thầy mo làm lễ cầu xin thần núi, thần hang cho phép mở cửa hang để “trai gái được vào chơi, cầu cho thành đôi hạnh phúc, lúa tốt như rừng gianh đầu bản”, rồi mọi người vào hang quét dọn. Sau này, khi có đền thờ mường Chiềng Ngam, còn có các lễ yết cáo, lễ đại tế và lễ tạ diễn ra tại đền nhằm tưởng nhớ công ơn những người có công khai bản lập mường.
Hội hang Bua mang đậm bản sắc của đồng bào Thái với nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian cổ truyền của cư dân miền sơn cước, như: chơi hang, ném còn, khắc luống, chơi tọ lẹ, biểu diễn cồng chiêng, nhảy sạp, thi bắn nỏ, thi đi cà kheo, thi hát các làn điệu dân ca: nhuôn, xuối, lăm, khắp; thi người đẹp hang Bua, biểu diễn trang phục truyền thống, thi uống rượu cần.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, lễ hội hang Bua được tổ chức với quy mô ngày càng lớn và có nhiều nét mới trong tổ chức cũng như trong các hoạt động, tạo điều kiện cho nhân dân, nhất là lớp trẻ tham gia sáng tạo các giá trị văn hóa, đáp ửng nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và du khách gần xa. Nhiều trò chơi mới được đưa vào hội, như thi đấu bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, đẩy gậy, kéo co, đu quay; chiếu phim; thi văn hóa ẩm thực; thi cuốn hương trầm; thi dệt thổ cẩm; thi cắm trại; thi viết chữ Thái; thi văn hóa rượu cần; tham quan các di tích lịch sử văn hóa trong vùng.
Công tác tổ chức mỗi năm một chu đáo, bài bản hơn. Chất lượng các hoạt động cũng được nâng lên qua từng năm. Từng phần thi, mỗi năm cũng có những nét mới tăng nhằm tính hấp dẫn hơn.
Ví dụ như phần thi văn hóa ẩm thực, năm thì thi làm mâm cỗ ngày tết, năm thì thi chế biến các món ăn đặc sản truyền thống và thuyết trình ý nghĩa các món ăn cũng là nội dung thi không thể thiếu. Phần thi văn hóa rượu cần cũng có nhiều nét mới, như: uống rượu cần trong cưới hỏi, trong lễ mừng nhà mới, trong lễ hội... với các hình thức diễn xướng khác nhau của các thầy mo, của người làm cham. Việc đưa nội dung thi thêu dệt, xe sợi, thi đan lát, thi cuốn hương trầm… vào hoạt động của lễ hội cũng là những nét mới nhằm quảng bá, giới thiệu với du khách về nghề truyền thống của Quỳ Châu...
Xem thêm >
Theo Mai Hương - Tạp chí Văn Hóa Nghệ An
Du lịch, GO!
Chiêm bái đền Mẫu ở Hưng Yên
Nằm trong quần thể của cụm di tích Phố Hiến, đền Mẫu được coi là ngôi đền có cảnh quan thiên nhiên đẹp cổ kính nhất ở Hưng Yên hiện nay.
Đền Mẫu có tên gọi khác là Hoa Dương linh từ hay đền Mậu Dương tọa lạc ở phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên (tỉnh Hưng Yên), thờ bà Dương Quý phi (triều nhà Tống ở Trung Quốc), là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Theo “Đại Nam nhất thống chí” và một số Thần tích, Thánh Mẫu vốn là phi tần của vua Tống Đế Bính. Năm 1279, quân Mông Cổ xâm lược nước Tống, vua Tống cùng hoàng tộc dạt về phương Nam tránh nạn nhưng quân địch đuổi sát, biết không thoát được, vua Tống và các phi tần đã nhảy xuống biển tự vẫn.
Tương truyền rằng có một thi thể phụ nữ trôi dạt vào cửa sông vùng Phố Hiến, được dân cư ở đây vớt lên, mai táng. Sau này có một vị quan thái giám nhà Tống lưu lạc đến vùng này biết chuyện đã cùng nhân dân xây dựng ngôi đền và lập làng Hoa Dương, với ý nghĩa biểu dương tấm lòng tiết liệt, trung trinh của bà. Từ đó, đền có tên là Hoa Dương linh từ.
Năm 1294, vua Trần Anh Tông chinh phạt Chiêm Thành, một đêm qua đây, nằm mộng thấy có thần nữ đến phù trợ giết giặc. Sau khi thắng trận trở về, nhớ tới công lao đó của thần nữ, nhà vua cho tôn tạo lại đền, và miễn thuế thuyền buôn ở Phố Hiến.
Qua thời gian ngôi đền không ngừng được trùng tu và xây dựng thêm. Vào năm Thành Thái thứ 8 (1896) đền Mẫu được trùng tu lớn và có quy mô như ngày nay. Năm 1990, Đền Mẫu đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ VHTT&DL) công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật.
Đền Mẫu toạ lạc trên một vùng đất rộng gần 3000m², quay về hướng Tây Nam, phía trước là hồ bán nguyệt, xa hơn một chút là con đê sông Hồng. Tương truyền, hồ nước phía trước đền xưa kia chính là một đoạn của con sông Hồng, do nước chảy đổi dòng mà thành. Đây cũng là nơi thi hài bà quý phi nhà Tống dạt vào.
Ca ngợi cảnh đẹp trước cửa đền, danh sĩ Lê Cù thời Lê mạt, đã viết, tạm dịch: “Luỹ hoa rải rác kìa trong trấn/ Ngàn liễu sương bay trước cửa đền/ Kìa hồ là cảnh hữu tình/ Khi soi xuống hồ thì có nguyệt/ Mà nguyệt vốn là kho vô tận/ Ngửa trông lên còn nguyệt ấy còn hồ...”.
Đền được xây dựng theo bố cục tiền nhất, hậu đinh gồm các hạng mục chính như: Nghi môn, đại bái, trung từ, hậu cung, phủ Đông, phủ Tây, nhà Oản (nhà sắp lễ). Toàn bộ công trình được bài trí hài hòa và được xây dựng bằng nguyên liệu bền vững như: gỗ lim, vôi mật, xi măng tạo nên một khu di tích khang trang, thoáng đãng. Nghi môn được xây dựng rất bề thế với chiều dài là 16,9m, kiến trúc chồng diên 2 tầng 8 mái.
Cửa đền (tam quan) được xây dựng theo kiểu vòm cuốn gồm 1 cửa chính và hai cửa phụ, cửa chính cao 7m đắp hình ngói ống. Trên vòm cuốn có bức đại tự ghi: “Dương thiên hậu Tống triều”. Tầng trên đắp bức đại tự “Mẫu nghi thiên hạ” được ghép bằng các mảnh gốm lam (đây là nét trang trí điển hình của kiến trúc thời Nguyễn).
Qua nghi môn là sân đền, giữa sân có cây cổ thụ gần 700 năm tuổi - sự hội ngộ của 3 cây đa - sanh - si quấn quýt lấy nhau tạo thế chân kiềng vững chắc bao trùm toàn bộ ngôi đền tăng thêm vẻ thâm nghiêm, cổ kính cho di tích.
Theo mọi người kể lại, rằng ngày xưa, giữa sân có một cây bàng cổ thụ, chim chóc kéo về quần tụ, làm rơi vãi những hạt đa, si, sanh trên ngọn cây bàng. Những hạt ấy mọc thành cây buông rễ xuống ôm trọn cây bàng. Các rễ khác đâm ngang, toả theo thế một cây đa 3 gốc như hiện nay. Theo các nhà sử học thì đây là cây đa cổ nhất vùng châu thổ Bắc Bộ.
Đi qua sân đền là đến toà đại bái với 3 gian, kiến trúc 2 tầng 8 mái; mái uốn cong mềm mại kiểu rồng chầu; lợp ngói vẩy rồng; chính diện đắp lưỡng long chầu nguyệt. Hai bên đại bái là điện Lưu Ly và cung Quảng Hàn. Bên trong đại bái là cung đệ tam với 5 gian, gian giữa nổi bật với 4 đôi câu đối ngợi ca Thánh Mẫu.
Gian phía trong treo bài văn của Chu Mạnh Trinh, soạn năm 1896, ghi lại công trạng của bà. Trong hậu cung an trí tượng Thánh Mẫu cùng với khám thờ, tràng kỷ. Tất cả đều được sơn son thếp vàng. Ai đến đây vào buổi tối, dưới ánh sáng mờ ảo của điện nến, trong làn khói hương lan toả, cũng đều cảm nhận một không khí tĩnh lặng và linh thiêng của chốn thâm cung.
Ngoài cảnh quan đẹp và kiến trúc cổ kính ra trong đền còn lưu giữ nhiều di vật quý như: Kiệu võng, long đình, long sàng, long đại có niên đại thế kỷ 18 - 19 và 15 đạo sắc phong từ triều Lê đến triều Nguyễn, cùng nhiều bức hoành phi, câu đối, đại tự ca ngợi sự trinh tiết và trung thành của Dương Quý phi.
Lễ hội đền Mẫu được diễn ra từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch hằng năm. Trong lễ hội thường diễn ra các hoạt động văn hoá dân gian như: rước kiệu, múa lân, múa rồng, rước nước... rất long trọng và được diễu qua nhiều đường phố tạo nên một không khí tưng bừng mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
Đền Mẫu đang là điểm du lịch văn hoá tâm linh, không chỉ của người dân Hưng Yên, mà còn thu hút đông đảo du khách thập phương đến hành hương chiêm bái cầu phúc, cầu lộc, cầu tài... Không chỉ vào chính hội, mà vào những ngày rằm, mồng 1 âm lịch hằng tháng lượng người đến thắp hương lễ bái và thzm quan cũng rất đông. Tuy là thờ một quý phi người nước ngoài nhưng đây lại là một công trình kiến trúc thuần Việt, rất đáng để tham quan, chiêm ngưỡng...
Du lịch, GO! - Theo Chín Hinh (báo Người Đưa Tin), internet
Đền Mẫu có tên gọi khác là Hoa Dương linh từ hay đền Mậu Dương tọa lạc ở phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên (tỉnh Hưng Yên), thờ bà Dương Quý phi (triều nhà Tống ở Trung Quốc), là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Theo “Đại Nam nhất thống chí” và một số Thần tích, Thánh Mẫu vốn là phi tần của vua Tống Đế Bính. Năm 1279, quân Mông Cổ xâm lược nước Tống, vua Tống cùng hoàng tộc dạt về phương Nam tránh nạn nhưng quân địch đuổi sát, biết không thoát được, vua Tống và các phi tần đã nhảy xuống biển tự vẫn.
Tương truyền rằng có một thi thể phụ nữ trôi dạt vào cửa sông vùng Phố Hiến, được dân cư ở đây vớt lên, mai táng. Sau này có một vị quan thái giám nhà Tống lưu lạc đến vùng này biết chuyện đã cùng nhân dân xây dựng ngôi đền và lập làng Hoa Dương, với ý nghĩa biểu dương tấm lòng tiết liệt, trung trinh của bà. Từ đó, đền có tên là Hoa Dương linh từ.
Năm 1294, vua Trần Anh Tông chinh phạt Chiêm Thành, một đêm qua đây, nằm mộng thấy có thần nữ đến phù trợ giết giặc. Sau khi thắng trận trở về, nhớ tới công lao đó của thần nữ, nhà vua cho tôn tạo lại đền, và miễn thuế thuyền buôn ở Phố Hiến.
Qua thời gian ngôi đền không ngừng được trùng tu và xây dựng thêm. Vào năm Thành Thái thứ 8 (1896) đền Mẫu được trùng tu lớn và có quy mô như ngày nay. Năm 1990, Đền Mẫu đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ VHTT&DL) công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật.Đền Mẫu toạ lạc trên một vùng đất rộng gần 3000m², quay về hướng Tây Nam, phía trước là hồ bán nguyệt, xa hơn một chút là con đê sông Hồng. Tương truyền, hồ nước phía trước đền xưa kia chính là một đoạn của con sông Hồng, do nước chảy đổi dòng mà thành. Đây cũng là nơi thi hài bà quý phi nhà Tống dạt vào.
Ca ngợi cảnh đẹp trước cửa đền, danh sĩ Lê Cù thời Lê mạt, đã viết, tạm dịch: “Luỹ hoa rải rác kìa trong trấn/ Ngàn liễu sương bay trước cửa đền/ Kìa hồ là cảnh hữu tình/ Khi soi xuống hồ thì có nguyệt/ Mà nguyệt vốn là kho vô tận/ Ngửa trông lên còn nguyệt ấy còn hồ...”.
Đền được xây dựng theo bố cục tiền nhất, hậu đinh gồm các hạng mục chính như: Nghi môn, đại bái, trung từ, hậu cung, phủ Đông, phủ Tây, nhà Oản (nhà sắp lễ). Toàn bộ công trình được bài trí hài hòa và được xây dựng bằng nguyên liệu bền vững như: gỗ lim, vôi mật, xi măng tạo nên một khu di tích khang trang, thoáng đãng. Nghi môn được xây dựng rất bề thế với chiều dài là 16,9m, kiến trúc chồng diên 2 tầng 8 mái.
Cửa đền (tam quan) được xây dựng theo kiểu vòm cuốn gồm 1 cửa chính và hai cửa phụ, cửa chính cao 7m đắp hình ngói ống. Trên vòm cuốn có bức đại tự ghi: “Dương thiên hậu Tống triều”. Tầng trên đắp bức đại tự “Mẫu nghi thiên hạ” được ghép bằng các mảnh gốm lam (đây là nét trang trí điển hình của kiến trúc thời Nguyễn).
Qua nghi môn là sân đền, giữa sân có cây cổ thụ gần 700 năm tuổi - sự hội ngộ của 3 cây đa - sanh - si quấn quýt lấy nhau tạo thế chân kiềng vững chắc bao trùm toàn bộ ngôi đền tăng thêm vẻ thâm nghiêm, cổ kính cho di tích.
Theo mọi người kể lại, rằng ngày xưa, giữa sân có một cây bàng cổ thụ, chim chóc kéo về quần tụ, làm rơi vãi những hạt đa, si, sanh trên ngọn cây bàng. Những hạt ấy mọc thành cây buông rễ xuống ôm trọn cây bàng. Các rễ khác đâm ngang, toả theo thế một cây đa 3 gốc như hiện nay. Theo các nhà sử học thì đây là cây đa cổ nhất vùng châu thổ Bắc Bộ.
Đi qua sân đền là đến toà đại bái với 3 gian, kiến trúc 2 tầng 8 mái; mái uốn cong mềm mại kiểu rồng chầu; lợp ngói vẩy rồng; chính diện đắp lưỡng long chầu nguyệt. Hai bên đại bái là điện Lưu Ly và cung Quảng Hàn. Bên trong đại bái là cung đệ tam với 5 gian, gian giữa nổi bật với 4 đôi câu đối ngợi ca Thánh Mẫu.
Gian phía trong treo bài văn của Chu Mạnh Trinh, soạn năm 1896, ghi lại công trạng của bà. Trong hậu cung an trí tượng Thánh Mẫu cùng với khám thờ, tràng kỷ. Tất cả đều được sơn son thếp vàng. Ai đến đây vào buổi tối, dưới ánh sáng mờ ảo của điện nến, trong làn khói hương lan toả, cũng đều cảm nhận một không khí tĩnh lặng và linh thiêng của chốn thâm cung.
Ngoài cảnh quan đẹp và kiến trúc cổ kính ra trong đền còn lưu giữ nhiều di vật quý như: Kiệu võng, long đình, long sàng, long đại có niên đại thế kỷ 18 - 19 và 15 đạo sắc phong từ triều Lê đến triều Nguyễn, cùng nhiều bức hoành phi, câu đối, đại tự ca ngợi sự trinh tiết và trung thành của Dương Quý phi.
Lễ hội đền Mẫu được diễn ra từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch hằng năm. Trong lễ hội thường diễn ra các hoạt động văn hoá dân gian như: rước kiệu, múa lân, múa rồng, rước nước... rất long trọng và được diễu qua nhiều đường phố tạo nên một không khí tưng bừng mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
Đền Mẫu đang là điểm du lịch văn hoá tâm linh, không chỉ của người dân Hưng Yên, mà còn thu hút đông đảo du khách thập phương đến hành hương chiêm bái cầu phúc, cầu lộc, cầu tài... Không chỉ vào chính hội, mà vào những ngày rằm, mồng 1 âm lịch hằng tháng lượng người đến thắp hương lễ bái và thzm quan cũng rất đông. Tuy là thờ một quý phi người nước ngoài nhưng đây lại là một công trình kiến trúc thuần Việt, rất đáng để tham quan, chiêm ngưỡng...
Du lịch, GO! - Theo Chín Hinh (báo Người Đưa Tin), internet
Popular Posts
-
H à Giang có rất nhiều chợ: chợ Phố Cáo, chợ Phó Bảng, chợ Sủng Là, chợ Lũng Phìn, chợ Ma Lé, chợ Đồng Văn, chợ Mèo Vạc, chợ Sà Phìn… Đa phầ...
-
C hùa Vạn Đức tọa lạc số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh). Chùa do HT.Thích Trí Tịnh, đời thứ 41 dòng t...
-
(Metinfo) - A i cũng biết khổ qua nguyên trái hầm thịt nạc bằm hoặc cá thác lác quết nước muối, khổ qua xắt lát xào thịt bò , khổ qua xắt lá...
-
(QN online) - C ùng với za’ră (thịt thọc ống), aví cuốt (bánh sừng trâu), ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc n...
-
G iữa nhịp sống hối hả và ồn ào của TP. Hồ Chí Minh, nếu bạn bước chân vào nơi rợp bóng cây, lộng gió và nghe tiếng chim hót sẽ là một niềm ...
-
(iHay) - T hị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên nằm giữa 2 thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và Tuy Hòa (Phú Yên). Có lẽ do nằm trong “vùng trũng” g...
-
(CTTĐTTTH) - A n Định Cung không chỉ nổi tiếng là một công trình đẹp của cung đình Huế mà nó còn là nơi chứng kiến nhiều nỗi thăng trầm của ...
-
(Daidoanket) - N gược dòng Long Đại, con thuyền đưa chúng tôi đi ngang qua các thôn, bản với những tên gọi dân gian như Ổ Gà, Lùi, Cập, Chuố...
-
A n Giang là tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam với một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên. Đây là tỉnh có dân số đông n...
-
K hu tưởng niệm các vua Hùng là một công trình thuộc khu Cổ Đại của dự án Công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc. Khu tưởng niệm tọa lạc trên ...











.jpg)











