Home » Posts filed under Phong tục - Văn hóa VN
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Chợ phiên Nghĩa Đô
Chợ phiên Nghĩa Đô nằm ở bản Nà Đình, trung tâm của xã Nghĩa Đô đồng thời cũng là chợ trung tâm, nơi giao thoa kinh tế văn hóa giữa các xã Nghĩa Đô - Vĩnh Yên - Xuân Hòa - Tân Tiến (Bảo Yên - Lào Cai) và vùng giáp ranh Quang Bình (Hà Giang), nhiều khi có cả đồng bào ở Bắc Hà xuống.
< Chợ Nghĩa Đô đông vui và tấp nập vào chủ nhật hàng tuần.
Ngoài mục đích trao đổi mua bán, chợ phiên Nghĩa Đô còn là nơi giao lưu văn hóa của nhân dân các dân tộc Tày, Dao, Mông… ở những vùng lân cận. Ai đã một lần ghé thăm chợ phiên Nghĩa Đô hẳn sẽ không quên không khí tấp nập nơi đây.
Do chợ họp mỗi tuần một lần nên tất cả công việc mua bán, trao đổi, giao lưu được đồng bào ta gửi gắm hoàn toàn vào phiên chợ. Chính vì vậy, ngay từ sáng sớm đồng bào Mông từ Tân Tiến hăm hở dắt ngựa và thồ những sản phẩm do chính mình làm ra như: Mật ong, nấm hương, mộc nhĩ, thóc, ngô, đậu tương, rau, thổ cẩm, gà, vịt, lợn cắp nách, dê… xuôi dốc núi để đến chợ. Đồng bào người Dao ở Xuân Hòa ngược lên, đồng bào Tày ở Vĩnh Yên thì thong thả hơn vì cách chợ khoảng 3 - 4km. Vui hơn là đồng bào người Tày ở Quang Bình (Hà Giang) cũng sang chợ Nghĩa Đô rất đông và họ cũng mang theo những sản phẩm và vốn văn hóa của mình đến đây.
Từ các triền núi, bản Tày, bản Mông, bản Dao, người dân vùng cao đến chợ Nghĩa Đô và gùi theo những đặc sản của núi rừng, những sản vật của dân tộc mình có được do bàn tay lao động khéo léo của các mẹ các chị. Nào là măng, mộc nhĩ, nấm hương; kia là chút gạo nương thơm lựng, cả những mớ rau rừng xanh non, bị chuối rừng, gùi mật ong ngọt lịm còn nguyên cả tầng…
Chợ Nghĩa Đô gồm 3 dãy nhà chính, một dãy được sử dụng bày bán các mặt hàng nông cụ phục vụ sản xuất của nhân dân như: Dao, cuốc, xẻng, lưỡi cày… Hai dãy nhà còn lại là nơi trao đổi, mua bán các mặt hàng vải vóc, quần áo, giày dép, thổ cẩm, đồ trang sức.
Ngoài 3 dãy nhà chính còn nhiều gian hàng được dựng bằng gỗ ở xung quanh chợ. Riêng khu vực bán nông sản và thực phẩm được bố trí ở một khoảng sân khá rộng, khu vực này tập trung bán các mặt hàng như thịt lợn, bò, trâu, cá, rau quả, thóc, ngô… Đây cũng là khu vực thu hút đông người tham gia mua bán. Ở chợ phiên Nghĩa Đô, nhiều mặt hàng người dân không dùng tiền để mua, mà họ thường trao đổi với nhau những hiện vật. Họ thường mang xuống chợ con gà, chục quả trứng để đổi lấy cái chậu, cái nong, nia…
Nét độc đáo ở phiên chợ không chỉ thể hiện ở việc có nhiều thành phần dân tộc tham gia mà còn biểu hiện ở những mặt hàng mà đồng bào đem đến chợ bán. Những mặt hàng mà đồng bào mang ra chợ bán khá phong phú, chủ yếu là những sản vật của núi rừng. Cũng vì vậy mà những thứ họ mua về chủ yếu là những mặt hàng họ không tự sản xuất được như dầu hỏa, muối, kim chỉ, mì chính, đèn, pin…
Khi mua những mặt hàng này, họ thường tính theo các đơn vị đo lường đặc trưng của vùng họ như tính quả (trứng), tính con (gà) tính ống (ngô), tính sâu như sâu măng, sâu gừng… Hầu như tất cả khối lượng của các mặt hàng đều được người dân tính giá sẵn ở nhà và không cần cân kẹo gì cả, người mua cũng khó lòng có thể mặc cả được.
Mỗi dân tộc lại có cách bán độc đáo của riêng mình làm cho phiên chợ Nghĩa Đô thêm phần hấp dẫn. Đồng bào Mông rất “kiên định” trong việc giữ giá. Người mua có thể trả bớt hay trả thêm một chút cũng không làm sao mua được. Người bán nhất quyết bán với giá đã nói ban đầu. Còn đồng bào Tày lại khác, bán con vật gì đó phải bán cả đôi như đôi gà, đôi vịt, đôi lợn… Nếu khách muốn mua một con và trả giá có thể cao hơn nhưng nhất quyết không bán mặc dù có thể phải mang về vì không bán được.
Phiên chợ Nghĩa Đô còn là nơi đồng bào giới thiệu và bày bán những sản phẩm mang tính phong tục của mình như quần áo được may từ chính bàn tay của người trong bản, rượu ngô, rượu sắn thơm nồng được nấu từ những lò rượu truyền thống của người Mông, người Tày. Rồi những thúng xôi ngũ sắc dẻo thơm được xôi từ những hạt gạo nếp nương tròn mẩy, những que hương thơm ngào ngạt càng làm cho không gian chợ thêm ấm áp.
Đặc biệt hơn, ở Nghĩa Đô, người dân đi chợ không đơn thuần chỉ để mua bán mà còn là để đi chơi. Chính vì vậy, đồng bào đi chợ như đi hội với sự tấp nập, háo hức. Có khi chỉ một con gà, vài mớ rau, nải chuối hay một chục trứng cắp nách mà họ có thể đi bộ nửa ngày đường để xuống chợ. Người dân tới đây để giao lưu, trò chuyện để gặp gỡ bạn bè, trao đổi tâm tình.
Do vậy, phiên chợ Nghĩa Đô có ba khu rất rõ ràng. Một khu dành cho mua bán rau và các sản phẩm của người dân, một khu dành cho mua bán quần áo, đồ dùng trong nông nghiệp. Còn có khu ẩm thực dành riêng cho sự giao lưu, trò chuyện và tâm tình của người dân. Những nồi nước dùng bốc khói thơm ngào ngạt hòa cùng sự cay nồng của chén rượu ngô và những lời trò chuyện say sưa. Đó chính là tín hiệu của những mối tâm tình giao lưu của đồng bào tại phiên chợ Nghĩa Đô.
Háo hức hơn cả là những đứa trẻ được theo người lớn đi chợ. Những que kem mát lạnh hấp dẫn biết nhường nào, những túi bỏng ngô thơm nức khó lòng có thể dửng dưng, rồi hiệu cắt tóc ngay cổng chợ lúc nào cũng đông nghịt khách.
Chợ phiên Nghĩa Đô chỉ diễn ra trong buổi sáng với tất cả sự nhộn nhịp của nó. Người dân đi chợ như đi hội rồi khi ra về vừa thấy vui rồi lại thấy luyến tiếc. Đến với phiên chợ Nghĩa Đô, du khách mới cảm nhận được cái đẹp ẩn chứa trong đó, không phô trương, cầu kỳ mà mộc mạc, đượm tính nhân văn. Không gian phiên chợ không chỉ là không gian mua sắm mà còn là không gian của một ngày hội.
Du lịch, GO!
< Chợ Nghĩa Đô đông vui và tấp nập vào chủ nhật hàng tuần.
Ngoài mục đích trao đổi mua bán, chợ phiên Nghĩa Đô còn là nơi giao lưu văn hóa của nhân dân các dân tộc Tày, Dao, Mông… ở những vùng lân cận. Ai đã một lần ghé thăm chợ phiên Nghĩa Đô hẳn sẽ không quên không khí tấp nập nơi đây.
Do chợ họp mỗi tuần một lần nên tất cả công việc mua bán, trao đổi, giao lưu được đồng bào ta gửi gắm hoàn toàn vào phiên chợ. Chính vì vậy, ngay từ sáng sớm đồng bào Mông từ Tân Tiến hăm hở dắt ngựa và thồ những sản phẩm do chính mình làm ra như: Mật ong, nấm hương, mộc nhĩ, thóc, ngô, đậu tương, rau, thổ cẩm, gà, vịt, lợn cắp nách, dê… xuôi dốc núi để đến chợ. Đồng bào người Dao ở Xuân Hòa ngược lên, đồng bào Tày ở Vĩnh Yên thì thong thả hơn vì cách chợ khoảng 3 - 4km. Vui hơn là đồng bào người Tày ở Quang Bình (Hà Giang) cũng sang chợ Nghĩa Đô rất đông và họ cũng mang theo những sản phẩm và vốn văn hóa của mình đến đây.
Từ các triền núi, bản Tày, bản Mông, bản Dao, người dân vùng cao đến chợ Nghĩa Đô và gùi theo những đặc sản của núi rừng, những sản vật của dân tộc mình có được do bàn tay lao động khéo léo của các mẹ các chị. Nào là măng, mộc nhĩ, nấm hương; kia là chút gạo nương thơm lựng, cả những mớ rau rừng xanh non, bị chuối rừng, gùi mật ong ngọt lịm còn nguyên cả tầng…
Chợ Nghĩa Đô gồm 3 dãy nhà chính, một dãy được sử dụng bày bán các mặt hàng nông cụ phục vụ sản xuất của nhân dân như: Dao, cuốc, xẻng, lưỡi cày… Hai dãy nhà còn lại là nơi trao đổi, mua bán các mặt hàng vải vóc, quần áo, giày dép, thổ cẩm, đồ trang sức.
Ngoài 3 dãy nhà chính còn nhiều gian hàng được dựng bằng gỗ ở xung quanh chợ. Riêng khu vực bán nông sản và thực phẩm được bố trí ở một khoảng sân khá rộng, khu vực này tập trung bán các mặt hàng như thịt lợn, bò, trâu, cá, rau quả, thóc, ngô… Đây cũng là khu vực thu hút đông người tham gia mua bán. Ở chợ phiên Nghĩa Đô, nhiều mặt hàng người dân không dùng tiền để mua, mà họ thường trao đổi với nhau những hiện vật. Họ thường mang xuống chợ con gà, chục quả trứng để đổi lấy cái chậu, cái nong, nia…Nét độc đáo ở phiên chợ không chỉ thể hiện ở việc có nhiều thành phần dân tộc tham gia mà còn biểu hiện ở những mặt hàng mà đồng bào đem đến chợ bán. Những mặt hàng mà đồng bào mang ra chợ bán khá phong phú, chủ yếu là những sản vật của núi rừng. Cũng vì vậy mà những thứ họ mua về chủ yếu là những mặt hàng họ không tự sản xuất được như dầu hỏa, muối, kim chỉ, mì chính, đèn, pin…
Mỗi dân tộc lại có cách bán độc đáo của riêng mình làm cho phiên chợ Nghĩa Đô thêm phần hấp dẫn. Đồng bào Mông rất “kiên định” trong việc giữ giá. Người mua có thể trả bớt hay trả thêm một chút cũng không làm sao mua được. Người bán nhất quyết bán với giá đã nói ban đầu. Còn đồng bào Tày lại khác, bán con vật gì đó phải bán cả đôi như đôi gà, đôi vịt, đôi lợn… Nếu khách muốn mua một con và trả giá có thể cao hơn nhưng nhất quyết không bán mặc dù có thể phải mang về vì không bán được.
Phiên chợ Nghĩa Đô còn là nơi đồng bào giới thiệu và bày bán những sản phẩm mang tính phong tục của mình như quần áo được may từ chính bàn tay của người trong bản, rượu ngô, rượu sắn thơm nồng được nấu từ những lò rượu truyền thống của người Mông, người Tày. Rồi những thúng xôi ngũ sắc dẻo thơm được xôi từ những hạt gạo nếp nương tròn mẩy, những que hương thơm ngào ngạt càng làm cho không gian chợ thêm ấm áp.Đặc biệt hơn, ở Nghĩa Đô, người dân đi chợ không đơn thuần chỉ để mua bán mà còn là để đi chơi. Chính vì vậy, đồng bào đi chợ như đi hội với sự tấp nập, háo hức. Có khi chỉ một con gà, vài mớ rau, nải chuối hay một chục trứng cắp nách mà họ có thể đi bộ nửa ngày đường để xuống chợ. Người dân tới đây để giao lưu, trò chuyện để gặp gỡ bạn bè, trao đổi tâm tình.
Do vậy, phiên chợ Nghĩa Đô có ba khu rất rõ ràng. Một khu dành cho mua bán rau và các sản phẩm của người dân, một khu dành cho mua bán quần áo, đồ dùng trong nông nghiệp. Còn có khu ẩm thực dành riêng cho sự giao lưu, trò chuyện và tâm tình của người dân. Những nồi nước dùng bốc khói thơm ngào ngạt hòa cùng sự cay nồng của chén rượu ngô và những lời trò chuyện say sưa. Đó chính là tín hiệu của những mối tâm tình giao lưu của đồng bào tại phiên chợ Nghĩa Đô.
Háo hức hơn cả là những đứa trẻ được theo người lớn đi chợ. Những que kem mát lạnh hấp dẫn biết nhường nào, những túi bỏng ngô thơm nức khó lòng có thể dửng dưng, rồi hiệu cắt tóc ngay cổng chợ lúc nào cũng đông nghịt khách.
Chợ phiên Nghĩa Đô chỉ diễn ra trong buổi sáng với tất cả sự nhộn nhịp của nó. Người dân đi chợ như đi hội rồi khi ra về vừa thấy vui rồi lại thấy luyến tiếc. Đến với phiên chợ Nghĩa Đô, du khách mới cảm nhận được cái đẹp ẩn chứa trong đó, không phô trương, cầu kỳ mà mộc mạc, đượm tính nhân văn. Không gian phiên chợ không chỉ là không gian mua sắm mà còn là không gian của một ngày hội.
Du lịch, GO!
Đến chợ phiên Lùng Khấu Nhin.
Mất 20 phút chạy xe từ thị trấn Mường Khương, tôi đến Lùng Khấu Nhin đúng 10 rưỡi sáng. Có lẽ nhờ ơn Trời, chợ vẫn đông vui và thật nhộn nhịp.
Chợ phiên Lùng Khấu Nhin nằm cách trung tâm huyện lỵ Mường Khương 12 km và là một trong số những phiên chợ cổ có tiếng của tỉnh Lào Cai hay tính luôn cả vùng Tây Bắc rộng lớn. Tương tự như các phiên chợ vùng cao khác, Lùng Khấu Nhin tràn ngập những màu sắc rực rỡ của váy áo, của chăn đệm, của bắp cải xanh mướt, quýt vàng ruộm. Chợ họp vào thứ 5 hàng tuần, là nơi bà con các dân tộc trong vùng trao đổi, mua bán các loại nông sản cùng hàng thổ cẩm.
< Vào chợ phiên Lùng Khấu Nhin.
Ngay từ đỉnh dốc, khi còn cách chợ một khoảng thì màu sắc tươi tắn của phiên chợ đã biểu hiện làm nổi bật lên giữa núi rừng trơ trọi trong bầu trời ảm đạm. Từng đoàn người với trang phục rực rỡ sắc màu, trên vai là những bao, gùi hàng hoá từ các ngả đường đổ về chợ.
Xung quanh con đường chính chạy dọc qua chợ, người ta bày bán rau quả, củ, nồi xoong, vật dụng cá nhân. Từ đường chính rẽ vào chợ là nơi bán váy vóc, thổ cẩm, len, chăn màn...
Người mua bán ở đây từ khắp các dân tộc H’Mong, Nùng, Mán, Kinh... nhưng số người dân tộc biết nói tiếng phổ thông thật thành thạo thì không nhiều. Vậy nhưng họ vẫn hiểu khi nghe ta nói.
< Chọn váy thổ cẩm.
Những mảnh vải hoa sặc sỡ, những chiếc váy thổ cẩm đầy họa tiết xoè gọn gàng trên những chiếc dây treo hay xếp lớp từng chồng trên mảnh bạt trải nền.
Túm tụm chung quanh là người lựa, người mua và cả người chỉ đứng ngắm.
Cạnh đó, hai dãy hàng quán bán thắng cố, chè cùng nhiều thứ đồ ăn khác dưới các tấm bạt xanh, nghi ngút bốc khói.
Túm tụm nơi kia là cánh đàn ông mặc áo đen tả phủ ngồi mời nhau rượu và trò chuyện vui vẻ, phụ nữ lại thích những bát phở nóng thơm lừng hay tô thắng cố nóng hổi.
Song song với hai dãy quán ăn này là khu nhà xây khoảng 50m², phía trên khắc dòng chữ 'Chợ Lùng Khấu Nhin', bên trong cũng bày bán quần áo, váy và vải vóc. Phía cuối khu nhà này mới là gian hàng thổ cẩm với những chiếc váy thêu nổi bật trên nền đen. Nhưng nhộn nhịp, hấp dẫn nhất với những người tham gia chợ phiên vẫn là khu bán gia súc, gia cầm như: trâu, bò, lợn, gà, ngựa... không khí trong khu vực này rất náo nhiệt.
< Bán chó con ở chợ phiên Lùng Khấu Nhin.
Những chú lợn nhỏ bày bán ở đây được buộc dây như chiến mã, mỗi khi muốn đi hướng nào thì bà chủ chỉ cần giật dây là các chú phi như bay, bà chủ chỉ việc lật đật chạy theo ghìm cương. 'Lợn ỉ bao tiền hả bác?', tiếng hỏi, tiếng chào hàng thật rôm rả.
Riêng những đứa trẻ ở đây: đứa thì thập thò sau lưng mẹ, đứa lại ngủ gà ngủ vịt trên địu đeo lưng, đứa khác gặm mía, ăn bánh. Có đứa lại chỉ có mỗi nhiệm vụ là nhìn một cách ngạc nhiên tất cả những người xung quanh rồi lại giấu tịt mặt vào lưng mẹ. Nói chung, trẻ con ở đây cứ ngoan lành mà theo mẹ, chả thấy khóc quấy bao giờ.
Đôi khi lại gặp bất ngờ với những đoàn xe hàng chục chiếc chở khách du lịch nước ngoài, điều này rất hiếm khi đi các chợ phiên vùng cao ở Mường Khương nhưng cũng nói lên sức hấp dẫn của phiên chợ này. Trong dòng người đông đúc đi chợ không khó để nhận ra từng đoàn du khách say sưa chụp ảnh, quay phim cảnh bà con các dân tộc nơi đây mua bán, trao đổi hàng hóa nông sản.
< Khách Tây thử nếm rượu.
Có du khách còn chọn cho mình một hai món ăn địa phương như bánh rán, bánh cuốn tráng… để cảm nhận ẩm thực. Thậm chí có du khách người Pháp ngồi vào ghế của hàng cắt tóc muốn thử tay nghề của thợ địa phương. Sau vài mươi phút nhìn vào gương, người khách nước ngoài nở nụ cười mãn nguyện - Trẻ thêm khá nhiều rồi đó chứ?
Ở một góc chợ khác là một đoàn du khách đang chọn mua những chiếc áo, váy do chính tay những phụ nữ dân tộc làm ra, họ cũng bàn tán, trao đổi, tìm hiểu và mặc cả giá trước khi mua.
Đến chợ phiên Lùng Khấu Nhin sẽ thấy nhiều vật dụng, đồ vật gần gũi, quen thuộc và cần thiết trong mỗi gia đình được bày bán như chiếc bình phun thuốc sâu, cuốc, gùi, chổi quét nhà, bát, đĩa, ấm, chén… giữa cảnh nhộn nhịp trao đổi, mua bán, thăm hỏi, tất cả làm nên sức hấp dẫn du khách với của chợ phiên đặc sắc vùng cao.
Du lịch, GO!
Chợ phiên Lùng Khấu Nhin nằm cách trung tâm huyện lỵ Mường Khương 12 km và là một trong số những phiên chợ cổ có tiếng của tỉnh Lào Cai hay tính luôn cả vùng Tây Bắc rộng lớn. Tương tự như các phiên chợ vùng cao khác, Lùng Khấu Nhin tràn ngập những màu sắc rực rỡ của váy áo, của chăn đệm, của bắp cải xanh mướt, quýt vàng ruộm. Chợ họp vào thứ 5 hàng tuần, là nơi bà con các dân tộc trong vùng trao đổi, mua bán các loại nông sản cùng hàng thổ cẩm.
< Vào chợ phiên Lùng Khấu Nhin.
Ngay từ đỉnh dốc, khi còn cách chợ một khoảng thì màu sắc tươi tắn của phiên chợ đã biểu hiện làm nổi bật lên giữa núi rừng trơ trọi trong bầu trời ảm đạm. Từng đoàn người với trang phục rực rỡ sắc màu, trên vai là những bao, gùi hàng hoá từ các ngả đường đổ về chợ.
Xung quanh con đường chính chạy dọc qua chợ, người ta bày bán rau quả, củ, nồi xoong, vật dụng cá nhân. Từ đường chính rẽ vào chợ là nơi bán váy vóc, thổ cẩm, len, chăn màn...
Người mua bán ở đây từ khắp các dân tộc H’Mong, Nùng, Mán, Kinh... nhưng số người dân tộc biết nói tiếng phổ thông thật thành thạo thì không nhiều. Vậy nhưng họ vẫn hiểu khi nghe ta nói.
< Chọn váy thổ cẩm.
Những mảnh vải hoa sặc sỡ, những chiếc váy thổ cẩm đầy họa tiết xoè gọn gàng trên những chiếc dây treo hay xếp lớp từng chồng trên mảnh bạt trải nền.
Túm tụm chung quanh là người lựa, người mua và cả người chỉ đứng ngắm.
Cạnh đó, hai dãy hàng quán bán thắng cố, chè cùng nhiều thứ đồ ăn khác dưới các tấm bạt xanh, nghi ngút bốc khói.Túm tụm nơi kia là cánh đàn ông mặc áo đen tả phủ ngồi mời nhau rượu và trò chuyện vui vẻ, phụ nữ lại thích những bát phở nóng thơm lừng hay tô thắng cố nóng hổi.
Song song với hai dãy quán ăn này là khu nhà xây khoảng 50m², phía trên khắc dòng chữ 'Chợ Lùng Khấu Nhin', bên trong cũng bày bán quần áo, váy và vải vóc. Phía cuối khu nhà này mới là gian hàng thổ cẩm với những chiếc váy thêu nổi bật trên nền đen. Nhưng nhộn nhịp, hấp dẫn nhất với những người tham gia chợ phiên vẫn là khu bán gia súc, gia cầm như: trâu, bò, lợn, gà, ngựa... không khí trong khu vực này rất náo nhiệt.
< Bán chó con ở chợ phiên Lùng Khấu Nhin.
Những chú lợn nhỏ bày bán ở đây được buộc dây như chiến mã, mỗi khi muốn đi hướng nào thì bà chủ chỉ cần giật dây là các chú phi như bay, bà chủ chỉ việc lật đật chạy theo ghìm cương. 'Lợn ỉ bao tiền hả bác?', tiếng hỏi, tiếng chào hàng thật rôm rả.
Riêng những đứa trẻ ở đây: đứa thì thập thò sau lưng mẹ, đứa lại ngủ gà ngủ vịt trên địu đeo lưng, đứa khác gặm mía, ăn bánh. Có đứa lại chỉ có mỗi nhiệm vụ là nhìn một cách ngạc nhiên tất cả những người xung quanh rồi lại giấu tịt mặt vào lưng mẹ. Nói chung, trẻ con ở đây cứ ngoan lành mà theo mẹ, chả thấy khóc quấy bao giờ.
Đôi khi lại gặp bất ngờ với những đoàn xe hàng chục chiếc chở khách du lịch nước ngoài, điều này rất hiếm khi đi các chợ phiên vùng cao ở Mường Khương nhưng cũng nói lên sức hấp dẫn của phiên chợ này. Trong dòng người đông đúc đi chợ không khó để nhận ra từng đoàn du khách say sưa chụp ảnh, quay phim cảnh bà con các dân tộc nơi đây mua bán, trao đổi hàng hóa nông sản.< Khách Tây thử nếm rượu.
Có du khách còn chọn cho mình một hai món ăn địa phương như bánh rán, bánh cuốn tráng… để cảm nhận ẩm thực. Thậm chí có du khách người Pháp ngồi vào ghế của hàng cắt tóc muốn thử tay nghề của thợ địa phương. Sau vài mươi phút nhìn vào gương, người khách nước ngoài nở nụ cười mãn nguyện - Trẻ thêm khá nhiều rồi đó chứ?
Ở một góc chợ khác là một đoàn du khách đang chọn mua những chiếc áo, váy do chính tay những phụ nữ dân tộc làm ra, họ cũng bàn tán, trao đổi, tìm hiểu và mặc cả giá trước khi mua.
Đến chợ phiên Lùng Khấu Nhin sẽ thấy nhiều vật dụng, đồ vật gần gũi, quen thuộc và cần thiết trong mỗi gia đình được bày bán như chiếc bình phun thuốc sâu, cuốc, gùi, chổi quét nhà, bát, đĩa, ấm, chén… giữa cảnh nhộn nhịp trao đổi, mua bán, thăm hỏi, tất cả làm nên sức hấp dẫn du khách với của chợ phiên đặc sắc vùng cao.
Du lịch, GO!
Ma uống rượu trên đỉnh Sê San
(Congly) - Vùng đất còn tồn lưu tục lệ nuôi ma của người Jrai nằm chênh vênh trên đỉnh đèo Sê San hùng vĩ, thuộc địa phận xã Ia M’nông, huyện Chư Pảh, cách Pleiku gần 100km. Tách biệt với thế giới bên ngoài, Ia M’nông tồn lưu nhiều tục lệ kỳ bí.
< Một góc núi rừng Ia M’nông.
Anh Nguyễn Phi, công nhân thuỷ điện Sê San kể: “Dăm năm trước, người Ia M’nông chôn chung mả, vì người Jrai tin rằng, nếu khi chết được ở “chung nhà” với bà con than thích sẽ đỡ buồn tủi. Vậy là có ai chết, cả làng lại ra rừng ma quật mồ, moi áo quan nhét người chết vào chôn chung”.
Đường ma ớn lạnh!
Phi nói thêm trong giọng đầy sợ hãi: “5 năm làm thuỷ điện, tôi chứng kiến nhiều lần cảnh người ta quật mồ, nhét người chết vào cái áo quan bằng gỗ chik, bên trong có xác người chôn cách đấy không lâu bị trương sình… Khi ấy mùi tử khí phả nồng nặc”.
< Một góc núi rừng Chư Pảh.
La M’nông hiểm trở, làng Dip lại là nơi sâu xa nhất, nên hiếm khi có người đặt chân đến. Nơi nuôi ma nằm trong “rừng ma” – nơi được xem như cấm địa, không ai được đặt chân tới, nếu không phải tiễn đưa người chết… hoặc nuôi ma. “Sợ con ma bắt lắm” – cô Siu Bạc, 18 tuổi, nói. Các già làng ai nấy đều rùng mình khi nhắc tới rừng ma. Già làng cho rằng nếu tự ý vào rừng a sẽ bị con ma theo dấu, theo mùi về đến tận làng, tạo nên dịch khiến nhiều người đau bệnh rồi chết…
Trong quá khứ, đã từng xảy ra trường hợp một người tự ý vào rừng ma, gây hại chết rất nhiều người. Thầy cúng không thể loại trừ được con ma rừng gây hại, vậy là trưởng làng ra lệnh đốt làng rồi dời làng đi nơi khác.
Anh Rơ-chăm Linh, ở làng Duch I, cách làng Dip khoảng dăm kilômet đường rừng là một người hiếm hoi chịu dẫn lối chúng tôi. Linh 25 tuổi, có vợ và 2 con, bỏ nhỏ: Chiều muộn có chị Rơ-chăm Lan thường ra ngồi bên mộ chồng vừa trò chuyện vừa bón thức ăn cho người dưới mộ.
< Cận cảnh một ngôi nhà ma vã những vật dụng mà người sống chia cho người chết theo tục chia của.
Gần 2h đồng hồ nếm trải đủ màn ớn lạnh với nỗi lo bị thú dữ tấn công, bị rắn độc cắn, sụp hầm, bị cây rừng hoai mục rớt đè…, rồi Rơ-chăm Linh cũng đưa được chúng tôi đến rừng ma.
Cuộc chuyện trò giữa hai thế giới
Rừng ma là vạt đất trống ngổn ngang nhà mồ. Bên trong những nhà mồ có vô số vật dụng mà người sống chia cho người chết theo tục “chia của” gồm ché rượu, cái gùi, quần áo, cồng chiêng… Rơ-chăm Linh nói với người Jrai, chết không phải là hết. Nên người chết cũng cũng cần có rượu để uống, cần nhà để ở, cần có cái xà-gạc để đi rừng, cần người để làm bầu bạn!
Rơ-chăm Lan nhìn thấy chúng tôi, chỉ nói một câu: “Mình ra rừng ma, ghé mộ chồng nuôi ma” rồi ù chạy ra khỏi rừng. Suốt một tháng trời, Rơ- chăm Lan đều đặn đem cơm, rượu ra nhà mả cho chồng. Chị ngồi kể cho chồng nghe mọi câu chuyện diễn ra hàng ngày ở làng. Và chị tin rằng, chồng chị sẽ nghe được, sẽ ăn cơm và uống rượu như ngày thường. “Nếu không cho người chết ăn, nó như con ma đói, nó theo quấy rối người sống, quấy phá người làng” – Rơ – chăm Linh giải thích.
< Một phụ nữ ở làng đang… cho ma ăn cơm uống rượu.
Theo lời kể của già làng Rơ-chăm Phiếu, khi chôn ma, thầy cúng sẽ làm lễ khấn để người chết nhập với làng ma: “Khấn xong đâu đó rồi quan tài mới được hạ huyệt. Lúc này người ta sẽ chôn một ống tre đã chặt sẵn, đã thông nối hai đầu, chôn ở đầu quan tài và lấp đất. Hằng ngày thường thì vợ hoặc chồng người chết sẽ đưa cơm, rượu, muối xuống cho người chết qua cái ống đó”.
Sau thời gian nuôi ma khoảng 1 tháng, luật tục qui định tuỳ điều kiện mà gia đình người chết phải mổ trâu hoặc heo tại nhà mả trong một hoặc hai ngày để đãi làng. Sau nghi lễ này, người nhà sẽ không phải ngày ngày đưa cơm rượu ra nhà mả nuôi ma: “Lúc đó thì vài tháng một lần, gia đình có người chết mới đi thăm mả, mới đem rượu cho ma uống, đem cơm cho ma ăn, đánh chiêng cho ma nghe… đến khi nào làm lễ bỏ mả thì chấm dứt”.
Từ khi hạ huyệt chôn ma đến 1 năm sau và cứ mỗi năm một lần, đến mùa hoa pơ-lang nở (hoa gạo), thân nhân của người chết sẽ đến rừng ma, đến huyệt mộ người thân sửa sang nhà mả, làm cỏ… Phong tục này được duy trì cho đến khi gia đình người quá cố có điều kiện làm lễ bỏ mả (pơ-thi) – nghi lễ được các nhà dân tộc học đánh giá là lễ hội độc đáo nhất của tộc người, là nghi lễ cuối cùng của người Jrai mà tộc người quan niệm đấy là thời điểm người chết được hồi sinh, từ đây vĩnh viễn về với thế giới tổ tiên-thế giới mà mọi thứ đều khác biệt với thế giới thực tại.
< Phong tục "nuôi ma" của người Ia M'nông.
Hôm ấy, trong câu chuyện về tục lệ nuôi ma giữa rừng già Ia M’nông, các già làng còn kể nhiều luật tục cử kiêng gắn liền với hành trình về cõi a-tâu (cõi ma) của người quá cố. Đó là câu chuyện về những luật tục bí ẩn quanh việc vào rừng chọn cây cổ thụ đẵn áo quan cho người chết, tục nhập quan của người chết, tục khấn tiễn đưa linh hồn người chết về với thế giới ma…
Không có hình dáng của hủ tục, “nuôi ma” là luật tục truyền đời của người Jrai ở Gia Lai, là cách mà người sống thể hiện, bày tỏ ân tình, trách nhiệm, sự quyết luyến với người nằm xuống. Qua bao dâu bể và những cuộc xâm lấn của các luồng văn hóa, điều đáng mừng là tập tục này vẫn được cộng đồng người Jrai gìn giữ, trở thành nét chấm phá đặc sắc trong kho tàng văn hóa phi vật thể của tộc người cùng cao không lẫn với bất kỳ dân tộc nào khác.
Kết nối âm dương bằng ống tre
< Khu nhà mồ.
- Người sống nuôi ma bằng cách nào, thưa già?
- Ồ, dễ thôi mà, chỉ cần đổ cơm, thức ăn bỏ vào ống tre nối với huyệt mộ! – già làng Rơ – chăm Phiếu nói.
Để cụ thể hơn, già làng Rơ-chăm Phiếu kể lại hành trình đưa người chết về với thế giới ma. Khi được đặt vào áo quan, người chết sẽ được những thanh niên lực lưỡng của làng đưa ra rừng ma. Tại đây, quan tài được đặt cạnh huyệt mồ. “Lúc đó, người nhà sẽ mở nắp quan tài cho người thân nhìn mặt người chết lần cuối. Rồi mọi người đổ thêm muối, gạo, nhét thêm đồ dùng cá nhân cho người chết. Đâu đó rồi mới đập nắp quan tài, hạ huyệt” Và chiếc ống tre sẽ được để thông từ quan tài lên mặt đất, hàng ngày những hồn ma uống rượu, ăn cơm và nghe kể chuyện từ người thân.
Xem thêm
Theo Bình An (Công Lý)
Du lịch, GO!
< Một góc núi rừng Ia M’nông.
Anh Nguyễn Phi, công nhân thuỷ điện Sê San kể: “Dăm năm trước, người Ia M’nông chôn chung mả, vì người Jrai tin rằng, nếu khi chết được ở “chung nhà” với bà con than thích sẽ đỡ buồn tủi. Vậy là có ai chết, cả làng lại ra rừng ma quật mồ, moi áo quan nhét người chết vào chôn chung”.
Đường ma ớn lạnh!
Phi nói thêm trong giọng đầy sợ hãi: “5 năm làm thuỷ điện, tôi chứng kiến nhiều lần cảnh người ta quật mồ, nhét người chết vào cái áo quan bằng gỗ chik, bên trong có xác người chôn cách đấy không lâu bị trương sình… Khi ấy mùi tử khí phả nồng nặc”.
< Một góc núi rừng Chư Pảh.
La M’nông hiểm trở, làng Dip lại là nơi sâu xa nhất, nên hiếm khi có người đặt chân đến. Nơi nuôi ma nằm trong “rừng ma” – nơi được xem như cấm địa, không ai được đặt chân tới, nếu không phải tiễn đưa người chết… hoặc nuôi ma. “Sợ con ma bắt lắm” – cô Siu Bạc, 18 tuổi, nói. Các già làng ai nấy đều rùng mình khi nhắc tới rừng ma. Già làng cho rằng nếu tự ý vào rừng a sẽ bị con ma theo dấu, theo mùi về đến tận làng, tạo nên dịch khiến nhiều người đau bệnh rồi chết…
Trong quá khứ, đã từng xảy ra trường hợp một người tự ý vào rừng ma, gây hại chết rất nhiều người. Thầy cúng không thể loại trừ được con ma rừng gây hại, vậy là trưởng làng ra lệnh đốt làng rồi dời làng đi nơi khác.
Anh Rơ-chăm Linh, ở làng Duch I, cách làng Dip khoảng dăm kilômet đường rừng là một người hiếm hoi chịu dẫn lối chúng tôi. Linh 25 tuổi, có vợ và 2 con, bỏ nhỏ: Chiều muộn có chị Rơ-chăm Lan thường ra ngồi bên mộ chồng vừa trò chuyện vừa bón thức ăn cho người dưới mộ.
< Cận cảnh một ngôi nhà ma vã những vật dụng mà người sống chia cho người chết theo tục chia của.
Gần 2h đồng hồ nếm trải đủ màn ớn lạnh với nỗi lo bị thú dữ tấn công, bị rắn độc cắn, sụp hầm, bị cây rừng hoai mục rớt đè…, rồi Rơ-chăm Linh cũng đưa được chúng tôi đến rừng ma.
Cuộc chuyện trò giữa hai thế giới
Rừng ma là vạt đất trống ngổn ngang nhà mồ. Bên trong những nhà mồ có vô số vật dụng mà người sống chia cho người chết theo tục “chia của” gồm ché rượu, cái gùi, quần áo, cồng chiêng… Rơ-chăm Linh nói với người Jrai, chết không phải là hết. Nên người chết cũng cũng cần có rượu để uống, cần nhà để ở, cần có cái xà-gạc để đi rừng, cần người để làm bầu bạn!
Rơ-chăm Lan nhìn thấy chúng tôi, chỉ nói một câu: “Mình ra rừng ma, ghé mộ chồng nuôi ma” rồi ù chạy ra khỏi rừng. Suốt một tháng trời, Rơ- chăm Lan đều đặn đem cơm, rượu ra nhà mả cho chồng. Chị ngồi kể cho chồng nghe mọi câu chuyện diễn ra hàng ngày ở làng. Và chị tin rằng, chồng chị sẽ nghe được, sẽ ăn cơm và uống rượu như ngày thường. “Nếu không cho người chết ăn, nó như con ma đói, nó theo quấy rối người sống, quấy phá người làng” – Rơ – chăm Linh giải thích.
< Một phụ nữ ở làng đang… cho ma ăn cơm uống rượu.
Theo lời kể của già làng Rơ-chăm Phiếu, khi chôn ma, thầy cúng sẽ làm lễ khấn để người chết nhập với làng ma: “Khấn xong đâu đó rồi quan tài mới được hạ huyệt. Lúc này người ta sẽ chôn một ống tre đã chặt sẵn, đã thông nối hai đầu, chôn ở đầu quan tài và lấp đất. Hằng ngày thường thì vợ hoặc chồng người chết sẽ đưa cơm, rượu, muối xuống cho người chết qua cái ống đó”.
Sau thời gian nuôi ma khoảng 1 tháng, luật tục qui định tuỳ điều kiện mà gia đình người chết phải mổ trâu hoặc heo tại nhà mả trong một hoặc hai ngày để đãi làng. Sau nghi lễ này, người nhà sẽ không phải ngày ngày đưa cơm rượu ra nhà mả nuôi ma: “Lúc đó thì vài tháng một lần, gia đình có người chết mới đi thăm mả, mới đem rượu cho ma uống, đem cơm cho ma ăn, đánh chiêng cho ma nghe… đến khi nào làm lễ bỏ mả thì chấm dứt”.
Từ khi hạ huyệt chôn ma đến 1 năm sau và cứ mỗi năm một lần, đến mùa hoa pơ-lang nở (hoa gạo), thân nhân của người chết sẽ đến rừng ma, đến huyệt mộ người thân sửa sang nhà mả, làm cỏ… Phong tục này được duy trì cho đến khi gia đình người quá cố có điều kiện làm lễ bỏ mả (pơ-thi) – nghi lễ được các nhà dân tộc học đánh giá là lễ hội độc đáo nhất của tộc người, là nghi lễ cuối cùng của người Jrai mà tộc người quan niệm đấy là thời điểm người chết được hồi sinh, từ đây vĩnh viễn về với thế giới tổ tiên-thế giới mà mọi thứ đều khác biệt với thế giới thực tại.
< Phong tục "nuôi ma" của người Ia M'nông.
Hôm ấy, trong câu chuyện về tục lệ nuôi ma giữa rừng già Ia M’nông, các già làng còn kể nhiều luật tục cử kiêng gắn liền với hành trình về cõi a-tâu (cõi ma) của người quá cố. Đó là câu chuyện về những luật tục bí ẩn quanh việc vào rừng chọn cây cổ thụ đẵn áo quan cho người chết, tục nhập quan của người chết, tục khấn tiễn đưa linh hồn người chết về với thế giới ma…
Không có hình dáng của hủ tục, “nuôi ma” là luật tục truyền đời của người Jrai ở Gia Lai, là cách mà người sống thể hiện, bày tỏ ân tình, trách nhiệm, sự quyết luyến với người nằm xuống. Qua bao dâu bể và những cuộc xâm lấn của các luồng văn hóa, điều đáng mừng là tập tục này vẫn được cộng đồng người Jrai gìn giữ, trở thành nét chấm phá đặc sắc trong kho tàng văn hóa phi vật thể của tộc người cùng cao không lẫn với bất kỳ dân tộc nào khác.
Kết nối âm dương bằng ống tre
< Khu nhà mồ.
- Người sống nuôi ma bằng cách nào, thưa già?
- Ồ, dễ thôi mà, chỉ cần đổ cơm, thức ăn bỏ vào ống tre nối với huyệt mộ! – già làng Rơ – chăm Phiếu nói.
Để cụ thể hơn, già làng Rơ-chăm Phiếu kể lại hành trình đưa người chết về với thế giới ma. Khi được đặt vào áo quan, người chết sẽ được những thanh niên lực lưỡng của làng đưa ra rừng ma. Tại đây, quan tài được đặt cạnh huyệt mồ. “Lúc đó, người nhà sẽ mở nắp quan tài cho người thân nhìn mặt người chết lần cuối. Rồi mọi người đổ thêm muối, gạo, nhét thêm đồ dùng cá nhân cho người chết. Đâu đó rồi mới đập nắp quan tài, hạ huyệt” Và chiếc ống tre sẽ được để thông từ quan tài lên mặt đất, hàng ngày những hồn ma uống rượu, ăn cơm và nghe kể chuyện từ người thân.
Xem thêm
Theo Bình An (Công Lý)
Du lịch, GO!
Thác Khe Vằn mùa nước đổ
Vùng cao Bình Liêu không chỉ nổi tiếng với miến dong, rừng hồi, quế, mà còn ấn tượng bởi cảnh quan hoang sơ, trong lành của những ngọn hùng thác, được người dân nơi đây kể như một truyền thuyết và thác Khe Vằn là một minh chứng.
Thác Khe Vằn thuộc thôn Khe Vằn, xã Húc Động, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. Thác cách trụ sở UBND xã Húc Động 3km, cách trung tâm thị trấn Bình Liêu khoảng 12 km về hướng đông nam. Thác nằm ngay đầu nguồn suối Lục Ngù, được tạo ra từ mạch nguồn trong núi Thông Châu. Thác Vằn nghĩa là Thác Mây (Vằn vốn có nghĩa là Vân) - Dần dần, người dân nơi đây đọc chệch đi gọi là Khe Vằn. Khi đứng ở dưới chân thác nhìn lên, ta sẽ thấy thác đổ xuống trắng xóa bọt nước, trông như những vầng mây trắng khổng lồ...
Thác Khe Vằn có độ cao gần 100m với 3 tầng thác. Mỗi tầng rộng khoảng 10 đến 15m² với các chân thác được thiên nhiên gọt dũa tạo thành bể nước trong vắt. Mỗi tầng thác mang một hình thế, một dáng vẻ khác nhau.
< Toàn cảnh thác Khe Vằn.
Tầng thứ nhất là dòng nước lớn được chảy từ các vách núi cao xuống tạo thành một hồ nước rộng. Nước hồ trong xanh, cùng với thác nước tung trắng trời điểm thêm cỏ cây hoa lá trên vách đá, khung cảnh trở nên đẹp và thi vị. Bên góc phải của hồ nước là một quần thể đá sừng sững và góc cạnh tạo nên một cảnh quan thiên nhiên kỳ thú.
Tầng thứ hai được chia thành hai dòng thác chảy (dòng thác bé và dòng thác lớn). Nước chảy từ trên cao đổ xuống, gặp đá tạo thành nhiều tầng nước tung ra những bọt nước trắng xóa. Dưới chân thác, nước chảy mạnh xối vào núi đá lâu dần hình thành nên một bể nước. Tại đây có những hòn đá khổng lồ và bằng phẳng là không gian nghỉ ngơi lý tưởng.
< Tầng thác thứ 2 dốc đứng, cao khoảng 40m. Mùa mưa lòng thác mở rộng, nước đổ xuống bốc lên thành những đám mây nước...
Tầng thứ ba, dòng nước chảy từ tầng hai xuống và đổ ra suối. Không gian chân thác là các tảng đá to, ở giữa có một hòn đá giống con voi đang phủ phục. Các khối đá nhô lên giữa vùng nước trong xanh, tạo nên một sức cuốn hút và hấp dẫn kỳ lạ đưa du khách khám phá cảnh quan đá và nước hoà quyện vào nhau. Nằm giữa dòng thác chảy còn có những phiến đá khổng lồ, nhẵn bóng, phẳng lì, to như những chiếc bàn lớn cho cả chục người ngồi.
< Tầng thứ 3 là tầng có lòng thác rộng nhất lấy nguồn nước từ trong núi chảy ra...
Thác Khe Vằn cũng mang sắc thái riêng theo từng mùa. Vào mùa mưa, khi những con suối có nhiều nước cũng là lúc thác Khe Vằn đẹp và hùng vĩ nhất: ồn ào, dữ dội với dòng nước trắng xóa xối xả. Đến mùa khô, nước ít hơn khiến dòng chảy của thác hiền hòa, êm ả như dòng tơ lụa.
Thác Khe Vằn là một tác phẩm thiên nhiên độc
đáo của tạo hóa với ba tầng nước nhảy, khung cảnh núi rừng hùng vĩ, gắn kết với không gian văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số. Thiên nhiên và con người hài hòa, tạo nên vẻ đẹp thanh bình của quê hương vùng sơn cước. Nơi đây hứa hẹn sẽ là một điểm du lịch sinh thái - văn hóa hấp dẫn trong tương lai.
< ... tạo thành một hồ nước giữa lòng thác, rộng vài chục m², sâu và trong mát.
Đến với Khe Vằn mùa này, du khách không chỉ được ngắm vẻ đẹp tuyệt vời của thác mà còn được hòa mình với thiên nhiên, dưới làn nước mát lạnh trong vắt. Hiện tại con đường vào thác đang được huyện Bình Liêu nâng cấp, để du khách đến với điểm tham quan lý thú này được thuận lợi hơn.
Văn hóa Húc Động
< Du khách có thể đắm mình dưới làn nước trong vắt, mát lạnh của từng tần thác.
Thác Khe Vằn sẽ là điểm đến tuyệt vời cho những du khách miền xuôi muốn tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc, khám phá nét đẹp thiên nhiên và con người vùng cao nơi đây. Xã Húc Động có 4 dân tộc sinh sống: dân tộc Sán chỉ, dân tộc Dao (Dao thanh phán) và dân tộc Tày, Kinh. Sẽ dễ dàng biết được phong tục tập quán của người dân tộc thiểu số nơi đây bởi vì những nét đẹp văn hóa được hình thành từ ngàn đời, hiện nay vẫn còn được lưu giữ, mang đậm nét bản sắc dân tộc.
Sắc màu văn hóa hòa hợp giữa bốn dân tộc, nhưng mỗi dân tộc mang những nét văn hóa riêng biệt tạo nên dòng chảy văn hóa đa sắc màu. Sợi chỉ để dệt nên bức tranh đó chính là những phong tục tập quán, trang phục, nhà cửa, tôn giáo tín ngưỡng và những phương thức lưu truyền văn hóa dân gian. Khe Vằn nổi tiếng với điệu hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ, hát Sán Cố, tấu kèn “gẹt” của người Dao Thanh Phán. Ẩm thực Khe Vằn là các đặc sản vùng cao dân tộc như mật ong, cá suối, măng trúc, rượu ngô...
Đặc biệt, miến dong được làm từ củ dong riềng thích hợp với điều kiện khí hậu và đất đai nơi đây đã trở thành món ăn ngon, một đặc sản nổi tiếng ở huyện Bình Liêu.
Điều đặc biệt nhất mà mọi người thường truyền tai nhau, “đến thác Khe Vằn để nghe hát Soóng cọ”. Hát Soóng cọ là hình thức hát đối đáp giao duyên nhằm thể hiện và giao lưu tình cảm giữa các nhóm cộng đồng người Sán Chỉ. Soóng cọ phát âm theo tiếng dân tộc là xướng ca, có nghĩa là ca hát, hát xướng. Hát Soóng cọ đặt theo thể loại thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán.
< Phía dưới chân thác là con suối chảy hiền hòa.
Những câu ca hò ban đầu tạo nên bản nhạc da diết và thiết tha. Đây là loại hình âm nhạc dân gian ra đời cách đây 300 năm, gắn bó trặt chẽ với cuộc sống sinh hoạt của người Sán Chỉ. Vào những đêm sáng trăng, trai gái người Sán Chỉ thường ngồi hát đối đáp bên dòng thác Khe Vằn đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc nơi đây. Những câu ca, tiếng hát Soóng cọ trữ tình và sâu lắng chính là cầu nối, là dây tơ hồng gắn kết những đôi nam thanh nữ tú. Nhưng nét đặc sắc nhất của hát Soóng cọ lại là Hội tháng Ba.
< Thác đưa nguồn sống cho các thửa ruộng bậc thang, các cánh rừng hồi, quế phía hạ nguồn.
Ngày hội được tổ chức vào ngày 16 tháng Ba âm lịch hằng năm, là ngày hội lớn nhất của đồng bào người Sán Chỉ nơi đây. Đây là dịp để tất cả đồng bào dân tộc Sán chỉ tạm gác mọi công việc lao động hằng ngày để nghỉ ngơi và tham gia lễ hội. Vào ngày này, tất cả trai gái người Sán Chỉ tụ hội ở chợ huyện để hát đối giao duyên với nhau. Từng tốp hát, nam một bên, nữ một bên, họ say sưa hát những khúc hát ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước.
“Hội Soóng cọ mở giữa tháng Ba
Gái trai bản xa dập dìu xuống chợ
Ô xèo hoa áo khăn rực rỡ
Em đi trẩy hội tháng Ba.
Chợ xuân lung linh ngày mở hội
Lóng lánh vòng bạc câu hát đối
Lúng liếng nụ cười nở hoa xuân
Điệu Soóng Cọ mượt mà ái ân.”
(Tg: Nguyễn Tuấn Bình)
Thác Khe Vằn ngày càng được nhiều du khách biết đến. Với những giá trị về thẩm mỹ, sinh thái và văn hóa, ngày 29 tháng 01 năm 2011, UBND tỉnh Quảng Ninh đã công nhận Thác Khe Vằn là di tích danh thắng cấp tỉnh, thành phố. Cùng với di tích lịch sử văn hóa đình Lục Nà, xã Lục Hồn, thác Khe Vằn sẽ là địa chỉ tiếp theo giới thiệu nền văn hóa độc đáo, tiềm năng du lịch sinh thái của huyện Bình Liêu với du khách trong và ngoài tỉnh.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ báo Quảng Ninh, Cổng TTĐT tỉnh Quảng Ninh
Thác Khe Vằn thuộc thôn Khe Vằn, xã Húc Động, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. Thác cách trụ sở UBND xã Húc Động 3km, cách trung tâm thị trấn Bình Liêu khoảng 12 km về hướng đông nam. Thác nằm ngay đầu nguồn suối Lục Ngù, được tạo ra từ mạch nguồn trong núi Thông Châu. Thác Vằn nghĩa là Thác Mây (Vằn vốn có nghĩa là Vân) - Dần dần, người dân nơi đây đọc chệch đi gọi là Khe Vằn. Khi đứng ở dưới chân thác nhìn lên, ta sẽ thấy thác đổ xuống trắng xóa bọt nước, trông như những vầng mây trắng khổng lồ...
Thác Khe Vằn có độ cao gần 100m với 3 tầng thác. Mỗi tầng rộng khoảng 10 đến 15m² với các chân thác được thiên nhiên gọt dũa tạo thành bể nước trong vắt. Mỗi tầng thác mang một hình thế, một dáng vẻ khác nhau.
< Toàn cảnh thác Khe Vằn.
Tầng thứ nhất là dòng nước lớn được chảy từ các vách núi cao xuống tạo thành một hồ nước rộng. Nước hồ trong xanh, cùng với thác nước tung trắng trời điểm thêm cỏ cây hoa lá trên vách đá, khung cảnh trở nên đẹp và thi vị. Bên góc phải của hồ nước là một quần thể đá sừng sững và góc cạnh tạo nên một cảnh quan thiên nhiên kỳ thú.
Tầng thứ hai được chia thành hai dòng thác chảy (dòng thác bé và dòng thác lớn). Nước chảy từ trên cao đổ xuống, gặp đá tạo thành nhiều tầng nước tung ra những bọt nước trắng xóa. Dưới chân thác, nước chảy mạnh xối vào núi đá lâu dần hình thành nên một bể nước. Tại đây có những hòn đá khổng lồ và bằng phẳng là không gian nghỉ ngơi lý tưởng.
< Tầng thác thứ 2 dốc đứng, cao khoảng 40m. Mùa mưa lòng thác mở rộng, nước đổ xuống bốc lên thành những đám mây nước...
Tầng thứ ba, dòng nước chảy từ tầng hai xuống và đổ ra suối. Không gian chân thác là các tảng đá to, ở giữa có một hòn đá giống con voi đang phủ phục. Các khối đá nhô lên giữa vùng nước trong xanh, tạo nên một sức cuốn hút và hấp dẫn kỳ lạ đưa du khách khám phá cảnh quan đá và nước hoà quyện vào nhau. Nằm giữa dòng thác chảy còn có những phiến đá khổng lồ, nhẵn bóng, phẳng lì, to như những chiếc bàn lớn cho cả chục người ngồi.
< Tầng thứ 3 là tầng có lòng thác rộng nhất lấy nguồn nước từ trong núi chảy ra...
Thác Khe Vằn cũng mang sắc thái riêng theo từng mùa. Vào mùa mưa, khi những con suối có nhiều nước cũng là lúc thác Khe Vằn đẹp và hùng vĩ nhất: ồn ào, dữ dội với dòng nước trắng xóa xối xả. Đến mùa khô, nước ít hơn khiến dòng chảy của thác hiền hòa, êm ả như dòng tơ lụa.
Thác Khe Vằn là một tác phẩm thiên nhiên độc
đáo của tạo hóa với ba tầng nước nhảy, khung cảnh núi rừng hùng vĩ, gắn kết với không gian văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số. Thiên nhiên và con người hài hòa, tạo nên vẻ đẹp thanh bình của quê hương vùng sơn cước. Nơi đây hứa hẹn sẽ là một điểm du lịch sinh thái - văn hóa hấp dẫn trong tương lai.
< ... tạo thành một hồ nước giữa lòng thác, rộng vài chục m², sâu và trong mát.
Đến với Khe Vằn mùa này, du khách không chỉ được ngắm vẻ đẹp tuyệt vời của thác mà còn được hòa mình với thiên nhiên, dưới làn nước mát lạnh trong vắt. Hiện tại con đường vào thác đang được huyện Bình Liêu nâng cấp, để du khách đến với điểm tham quan lý thú này được thuận lợi hơn.
Văn hóa Húc Động
< Du khách có thể đắm mình dưới làn nước trong vắt, mát lạnh của từng tần thác.
Thác Khe Vằn sẽ là điểm đến tuyệt vời cho những du khách miền xuôi muốn tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc, khám phá nét đẹp thiên nhiên và con người vùng cao nơi đây. Xã Húc Động có 4 dân tộc sinh sống: dân tộc Sán chỉ, dân tộc Dao (Dao thanh phán) và dân tộc Tày, Kinh. Sẽ dễ dàng biết được phong tục tập quán của người dân tộc thiểu số nơi đây bởi vì những nét đẹp văn hóa được hình thành từ ngàn đời, hiện nay vẫn còn được lưu giữ, mang đậm nét bản sắc dân tộc.
Sắc màu văn hóa hòa hợp giữa bốn dân tộc, nhưng mỗi dân tộc mang những nét văn hóa riêng biệt tạo nên dòng chảy văn hóa đa sắc màu. Sợi chỉ để dệt nên bức tranh đó chính là những phong tục tập quán, trang phục, nhà cửa, tôn giáo tín ngưỡng và những phương thức lưu truyền văn hóa dân gian. Khe Vằn nổi tiếng với điệu hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ, hát Sán Cố, tấu kèn “gẹt” của người Dao Thanh Phán. Ẩm thực Khe Vằn là các đặc sản vùng cao dân tộc như mật ong, cá suối, măng trúc, rượu ngô...
Đặc biệt, miến dong được làm từ củ dong riềng thích hợp với điều kiện khí hậu và đất đai nơi đây đã trở thành món ăn ngon, một đặc sản nổi tiếng ở huyện Bình Liêu.
Điều đặc biệt nhất mà mọi người thường truyền tai nhau, “đến thác Khe Vằn để nghe hát Soóng cọ”. Hát Soóng cọ là hình thức hát đối đáp giao duyên nhằm thể hiện và giao lưu tình cảm giữa các nhóm cộng đồng người Sán Chỉ. Soóng cọ phát âm theo tiếng dân tộc là xướng ca, có nghĩa là ca hát, hát xướng. Hát Soóng cọ đặt theo thể loại thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán.
< Phía dưới chân thác là con suối chảy hiền hòa.
Những câu ca hò ban đầu tạo nên bản nhạc da diết và thiết tha. Đây là loại hình âm nhạc dân gian ra đời cách đây 300 năm, gắn bó trặt chẽ với cuộc sống sinh hoạt của người Sán Chỉ. Vào những đêm sáng trăng, trai gái người Sán Chỉ thường ngồi hát đối đáp bên dòng thác Khe Vằn đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc nơi đây. Những câu ca, tiếng hát Soóng cọ trữ tình và sâu lắng chính là cầu nối, là dây tơ hồng gắn kết những đôi nam thanh nữ tú. Nhưng nét đặc sắc nhất của hát Soóng cọ lại là Hội tháng Ba.
< Thác đưa nguồn sống cho các thửa ruộng bậc thang, các cánh rừng hồi, quế phía hạ nguồn.
Ngày hội được tổ chức vào ngày 16 tháng Ba âm lịch hằng năm, là ngày hội lớn nhất của đồng bào người Sán Chỉ nơi đây. Đây là dịp để tất cả đồng bào dân tộc Sán chỉ tạm gác mọi công việc lao động hằng ngày để nghỉ ngơi và tham gia lễ hội. Vào ngày này, tất cả trai gái người Sán Chỉ tụ hội ở chợ huyện để hát đối giao duyên với nhau. Từng tốp hát, nam một bên, nữ một bên, họ say sưa hát những khúc hát ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước.
“Hội Soóng cọ mở giữa tháng Ba
Gái trai bản xa dập dìu xuống chợ
Ô xèo hoa áo khăn rực rỡ
Em đi trẩy hội tháng Ba.
Chợ xuân lung linh ngày mở hội
Lóng lánh vòng bạc câu hát đối
Lúng liếng nụ cười nở hoa xuân
Điệu Soóng Cọ mượt mà ái ân.”
(Tg: Nguyễn Tuấn Bình)
Thác Khe Vằn ngày càng được nhiều du khách biết đến. Với những giá trị về thẩm mỹ, sinh thái và văn hóa, ngày 29 tháng 01 năm 2011, UBND tỉnh Quảng Ninh đã công nhận Thác Khe Vằn là di tích danh thắng cấp tỉnh, thành phố. Cùng với di tích lịch sử văn hóa đình Lục Nà, xã Lục Hồn, thác Khe Vằn sẽ là địa chỉ tiếp theo giới thiệu nền văn hóa độc đáo, tiềm năng du lịch sinh thái của huyện Bình Liêu với du khách trong và ngoài tỉnh.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ báo Quảng Ninh, Cổng TTĐT tỉnh Quảng Ninh
“Rau ráng” rứa thôi…!
Rau xanh là nguyên liệu không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực của người Việt, dẫu đó có là món “nem công chả phượng” hay “dưa cà mắm muối”. Riêng với Quảng Trị, có người bảo rằng phần do mảnh đất này nghèo đến khô cằn sỏi đá, phần tính cách con người vốn “dễ nuôi” nên chỉ ở đây người ta mới “phát hiện”, chế biến và ăn những loài rau rất lạ, chỉ cần nghe tên thôi cũng đủ gợi sự hiếu kỳ…
Dân quê Quảng Trị vốn thích vần vè, ví như rau thì rõ rồi còn cái đuôi “ráng” thì nhiều người không hiểu được ý nghĩa của nó. Vậy mà câu nói “rau ráng rứa thôi…” lại là câu cửa miệng của người dân xứ này. Hỏi “Dạo này mần ăn ra răng?” hay “Hôm nay ăn cơm với chi?”, người Quảng Trị đều nói: “Rau ráng rứa thôi...!”, tựu chung hàm ý khiêm nhường, phảng phất sự dung dị quê kiểng không lẫn vào đâu được…
1. Trong một chuyến đi cứu trợ người dân huyện vùng trũng Hải Lăng sau mùa lũ 2010, tôi được dân địa phương “ưu ái” cho nếm thử một loại rau mà chỉ cần đọc tên cũng đã... líu cả lưỡi: xôộc xoạc, thứ rau mà người dân vùng nam Hải Lăng xưa đặt bài vè có hàm ý “chê bai” rằng: “Chán chi rau mà ăn rau xôộc xoạc/Chán chi bạc mà tiêu bạc Đông Dương”. Khi món rau ấy đem ra mời nhà báo, có người can vì hơi thất lễ nhưng ông Hồ Sỹ Xoang-một ông lão tuổi ngót 80- phản bác ngay: “Quý mới mời chú ấy. Xưa người ta đặt vè vậy chứ chừ dễ chi có mà ăn…”.
Ông Xoang tiếp chuyện rằng chỉ người dân ở xã Hải Tân, Hải Chánh, Hải Hòa mới biết và ăn rau xôộc xoạc. Nhưng rau ngon, có nhiều chỉ từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch, đặc biệt là sau mùa lũ và có tên gọi khác là rau toong hoặc rau bưng. Trừ tên toong, 2 cái tên còn lại ông Xoang đều có cách lý giải rất dân gian nhưng hay đáo để. “Tên xôộc xoạc thì dễ rồi vì chỉ cần bỏ vào miệng nhai, chú sẽ nghe tiếng động xôộc xoạc rất vui tai.
< Rau xôộc xoạc, “đặc sản” của người dân vùng nam Hải Lăng.
Nhưng cũng có chuyện kể rằng ngày xưa, phụ nữ đi hái rau phải cởi truồng để lặn hụp dưới nước. Chẳng may lúc ấy có đám đàn ông đi ngang qua, quýnh quáng quá họ vớ luôn mớ rau xôộc xoạc để bưng, che lại những phần nhạy cảm trên cơ thể. Cái tên rau bưng cũng có từ đó…” - ông Xoang cho biết.
Một bữa ăn rất “được cơm” trôi qua lẹ làng cùng những câu chuyện kể khá tếu táo của người dân vùng lũ…Và trong những cơ hội được trở lại vùng quê này, tôi đều “vòi vĩnh” ăn rau xôộc xoạc nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu. Có hôm, dẫu đã “gạ gẫm” trước nhưng khi đến nơi, Chủ tịch UBND xã Hải Tân Dương Viết Hải buồn xo nói: “Chịu chú ạ, từ sớm anh phải nhờ mấy cô văn phòng đi lùng từ chợ Hưng Nhơn, An Thơ (xã Hải Hòa) đến chợ Ưu Điềm (Thừa Thiên - Huế) cho chú mà không có. Thất lễ với chú vậy…”.
Tưởng như “cái sự ăn” rau xôộc xoạc của tôi đã đứt gánh thì một ngày, anh Lực, cán bộ văn hóa thôn Hà Lỗ (xã Hải Tân) gọi điện hớt hải: “Có “hàng” rồi chú ơi. Vào ngay nhé…”. Tôi nói anh cứ mua đi, hết bao nhiêu tôi sẽ gửi lại thì nghe từ đầu dây bên kia tiếng cười: “Chục ngàn là chú ăn trối chết…”.
Anh Lực vợ mất ngót chục năm nên “đầu bếp” của tôi trưa đó là chị Lê Thị Lệ, 48 tuổi, thôn Văn Thủy, xã Hải Tân (chị vợ anh Lực). Anh Lực bảo chị Lệ cũng góa chồng, con trai đi học xa, ít khi nấu nướng nhưng đã nấu phải là “số zách”, xôộc xoạc cũng là món tủ.
Công đoạn làm thứ rau lạ khá cầu kỳ, tôi thấy chị Lệ nắm từng bó, cắt rễ ngâm vào nước muối một hồi lâu trước khi cắt nhỏ ra từng khúc chừng 5 cm rồi vò chúng xoắn lại với nhau. “Cái thứ rau này có lá mảnh như lá lúa, dài chừng 3 gang, lại mọc ở dưới khe suối nên rất nhiều bùn, phải làm rau thật kỹ mới ăn được …”, vừa nói, chị Lệ vừa không ngơi tay.
Tất nhiên, rau xôộc xoạc sẽ khó nuốt khi ăn không, ngoài giá, rau thơm, búp chuối trộn cùng, bí quyết nằm ở khâu pha chế nước chấm. Chị Lệ vằm nhỏ thịt ba chỉ rồi xào qua với ném, cuối cùng là đổ nước ruốc vào. Chảo sôi sùng sục, mùi của nước chấm bốc lên sực nức, rát cả mũi. “Xôộc xoạc chấm với nước ruốc ba chỉ là đúng bài nhất hoặc cũng có thể ăn kèm với cá lóc um chua. Nhưng ông bà xưa chỉ ăn với dưa môn, ngày đó tiền bạc đâu mà ăn cá thịt…”, chị Lệ mỉm cười nói.
Một khi xôộc xoạc đã lên mâm chỉ cần ăn với cơm trắng cũng tuyệt cú mèo. Toan đụng đũa thì bà Nguyễn Thị Sưa (84 tuổi, mẹ chị Lệ) nhắc : “Ăn món này đừng sợ…xấu. Phải há miệng hết cỡ, ăn một miếng to mới ngon”. Tôi làm y vậy và tưởng tượng vòm miệng của mình như một “máy nghiền khổng lồ”, trong đó có vị thanh thanh của rau xôộc xoạc, vị béo ngậy của thịt và sự mặn mòi của ruốc. Tất cả cùng quyện vào nhau, xôộc xoạc, xôộc xoạc…loáng cái ngoảnh lại dĩa rau to đã hết tự lúc nào.
2. Phàm là người Gio Linh khi còn là một đứa trẻ đều đã được nghe lời ru bên vành nôi của bà, của mẹ rằng: “Ầu ơ…Muốn ăn cá, tôm thì về Gio Mai, Gio Việt/ Muốn ăn rau liệt thì về miết Gio An”. Gio An, hẳn rồi, đó là vùng đất đỏ bazan phía tây Quảng Trị, nơi bạt ngàn những vườn cao su đứng thẳng hàng, từng bước vào thơ nhạc chiến tranh với:“Tiếng trống trận từ Gio An vọng tới. Rừng núi ta ơi! Hãy hát vui chung cùng bản làng. Mừng thắng trận Gio An…” (Tiếng đàn Ta Lư, Huy Thục).
Chưa hết, Gio An có làng Hảo Sơn, nơi vẫn còn hiển diện những chiếc giếng cổ được người Chăm Pa đắp bằng đá ong, bốn mùa của hàng trăm năm qua nước chảy róc rách. Và cũng chính đó là nơi duy nhất của tỉnh Quảng Trị trồng được rau liệt, dân Hảo Sơn cũng không “quen” trồng loại rau khác. Có người “ghen tị” quá đỗi mà bĩu môi rằng : “Cứ như thể rau liệt là của riêng mảnh làng ấy…”.
Một chiều mưa lất phất ở Hảo Sơn, Dũng, một “nhà báo làng” dẫn tôi đến ruộng cải xoong (tên gọi khác của rau liệt) mà không quên thể hiện sự hiểu biết của mình: “Cạnh giếng Ông, giếng Bà, giếng Gai, giếng Tép cổ xưa đều có những ruộng rau liệt. Cái thứ rau này kiêu kỳ lắm, chỉ sống được ở những nơi nước chảy và trong…”.
Xắn ống quần lội dọc máng nước của giếng Ông mát rượi, hai bên là những thảm rau liệt dập dềnh trên mặt nước, tôi nghe bà Vân, người có ba đời trồng rau liệt ở khu vực này mách nhỏ rằng: “Rau liệt mọc chẳng theo một trật tự nào, rễ của chúng chỉ bám hờ trên đá, còn phần thân đung đưa theo dòng nước chảy. Nói là trồng rau nhưng sau khi xuống giống, chúng tôi cứ để tự nhiên thế, đến mùa là hái chứ công sức bỏ ra không nhiều. Dễ là vậy nhưng hễ trồng rau liệt ngoài giếng cổ, nơi chỉ có nước ứ và bẩn thì rau đổ rạp, quắt queo hết…”.
< Vườn rau liệt của bà Vân.
Hồ như chính những chiếc giếng cổ xưa là “mẹ đẻ” của loại rau này, khi giếng hết nước cũng có nghĩa là rau sẽ chết. Cứ tạm giả thiết vậy đi bởi hỏi quanh từ già đến trẻ trong cái làng này thì nào ai biết rau liệt có từ bao giờ đâu? Cho dù cái thứ rau thuộc dòng “hàng hiếm” này được gắn mác làng Hảo Sơn vào Nam ra Bắc, mang lại cơm áo cho bao người… Ví như bà Vân, với ruộng rau tí tẹo đó mà mỗi mùa bà cũng kiếm được vài chục triệu đồng. Tiếc rằng, tuổi thọ của rau liệt ngắn ngủi, chỉ tốt tươi giữa buổi mưa phùn gió bấc, còn qua đến giêng hai, lá sẽ chuyển màu xanh thẫm và có vị đăng đắng nên chẳng được ngó ngàng…
Chuyện trò hăng say nhưng tôi để ý chốc chốc anh Dũng lại quờ tay ngắt mấy đọt rau liệt, chao qua dưới nước rồi bỏ lên miệng nhai ngon lành. Anh bảo rau liệt có thể dùng nấu canh, luộc nhưng ngon nhất khi ăn sống, sang trọng một tí thì có thể đảo qua với thịt bò tái và trứng gà. “Cái mùi vị của rau liệt khó diễn tả lắm và không phải ai cũng chịu được. Nhưng có một điều chắc chắn là hễ ai ăn được thì sẽ nghiền luôn…”, anh Dũng nói.
< Rau rớn (dớn) luộc.
3. Sẽ thật thiếu sót khi không nhắc đến rau rớn, loài rau thường mọc ở vùng trung du, đồi núi như Cam Lộ, Đakrông khiến bao kẻ sành ăn “mê mệt”. Hay ven biển Cửa Tùng có rau mứt (rong biển) dùng để nấu cùng cháo vạc giường (cháo bột) ăn mãi không biết no. Khi đã chán với những hương vị thân quen, dân Quảng Trị còn gộp thập cẩm các thứ rau quanh vườn nhà (từ rau sam, rau dền, rau khoai đến rau ngót, mồng tơi, mã đề, rau má, rau cải, rau cúc…) để nấu canh và gọi đó là canh rau tập tàng…
Có câu chuyện tôi đã từng nghe ai đó kể rằng ở bên Tây bên Tàu, bó rau muống có khi đắt hơn con gà nhưng cớ gì phải đi xa xôi, chỉ ở đất Quảng Trị thôi, nếu không gặp “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” dẫu có bỏ vàng thỏi cũng chưa chắc được ăn những loại rau ngồ ngộ này, dẫu cơn thèm đã lên quay quắt. Vậy mới nói, qua rồi cái thời “rau ráng” là món ăn của… nhà nghèo.
Du lịch, GO! - Theo NGUYỄN PHÚC (Quảng Trị Online), internet
Dân quê Quảng Trị vốn thích vần vè, ví như rau thì rõ rồi còn cái đuôi “ráng” thì nhiều người không hiểu được ý nghĩa của nó. Vậy mà câu nói “rau ráng rứa thôi…” lại là câu cửa miệng của người dân xứ này. Hỏi “Dạo này mần ăn ra răng?” hay “Hôm nay ăn cơm với chi?”, người Quảng Trị đều nói: “Rau ráng rứa thôi...!”, tựu chung hàm ý khiêm nhường, phảng phất sự dung dị quê kiểng không lẫn vào đâu được…
1. Trong một chuyến đi cứu trợ người dân huyện vùng trũng Hải Lăng sau mùa lũ 2010, tôi được dân địa phương “ưu ái” cho nếm thử một loại rau mà chỉ cần đọc tên cũng đã... líu cả lưỡi: xôộc xoạc, thứ rau mà người dân vùng nam Hải Lăng xưa đặt bài vè có hàm ý “chê bai” rằng: “Chán chi rau mà ăn rau xôộc xoạc/Chán chi bạc mà tiêu bạc Đông Dương”. Khi món rau ấy đem ra mời nhà báo, có người can vì hơi thất lễ nhưng ông Hồ Sỹ Xoang-một ông lão tuổi ngót 80- phản bác ngay: “Quý mới mời chú ấy. Xưa người ta đặt vè vậy chứ chừ dễ chi có mà ăn…”.
Ông Xoang tiếp chuyện rằng chỉ người dân ở xã Hải Tân, Hải Chánh, Hải Hòa mới biết và ăn rau xôộc xoạc. Nhưng rau ngon, có nhiều chỉ từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch, đặc biệt là sau mùa lũ và có tên gọi khác là rau toong hoặc rau bưng. Trừ tên toong, 2 cái tên còn lại ông Xoang đều có cách lý giải rất dân gian nhưng hay đáo để. “Tên xôộc xoạc thì dễ rồi vì chỉ cần bỏ vào miệng nhai, chú sẽ nghe tiếng động xôộc xoạc rất vui tai.
< Rau xôộc xoạc, “đặc sản” của người dân vùng nam Hải Lăng.
Nhưng cũng có chuyện kể rằng ngày xưa, phụ nữ đi hái rau phải cởi truồng để lặn hụp dưới nước. Chẳng may lúc ấy có đám đàn ông đi ngang qua, quýnh quáng quá họ vớ luôn mớ rau xôộc xoạc để bưng, che lại những phần nhạy cảm trên cơ thể. Cái tên rau bưng cũng có từ đó…” - ông Xoang cho biết.
Một bữa ăn rất “được cơm” trôi qua lẹ làng cùng những câu chuyện kể khá tếu táo của người dân vùng lũ…Và trong những cơ hội được trở lại vùng quê này, tôi đều “vòi vĩnh” ăn rau xôộc xoạc nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu. Có hôm, dẫu đã “gạ gẫm” trước nhưng khi đến nơi, Chủ tịch UBND xã Hải Tân Dương Viết Hải buồn xo nói: “Chịu chú ạ, từ sớm anh phải nhờ mấy cô văn phòng đi lùng từ chợ Hưng Nhơn, An Thơ (xã Hải Hòa) đến chợ Ưu Điềm (Thừa Thiên - Huế) cho chú mà không có. Thất lễ với chú vậy…”.
Tưởng như “cái sự ăn” rau xôộc xoạc của tôi đã đứt gánh thì một ngày, anh Lực, cán bộ văn hóa thôn Hà Lỗ (xã Hải Tân) gọi điện hớt hải: “Có “hàng” rồi chú ơi. Vào ngay nhé…”. Tôi nói anh cứ mua đi, hết bao nhiêu tôi sẽ gửi lại thì nghe từ đầu dây bên kia tiếng cười: “Chục ngàn là chú ăn trối chết…”.
Anh Lực vợ mất ngót chục năm nên “đầu bếp” của tôi trưa đó là chị Lê Thị Lệ, 48 tuổi, thôn Văn Thủy, xã Hải Tân (chị vợ anh Lực). Anh Lực bảo chị Lệ cũng góa chồng, con trai đi học xa, ít khi nấu nướng nhưng đã nấu phải là “số zách”, xôộc xoạc cũng là món tủ.
Công đoạn làm thứ rau lạ khá cầu kỳ, tôi thấy chị Lệ nắm từng bó, cắt rễ ngâm vào nước muối một hồi lâu trước khi cắt nhỏ ra từng khúc chừng 5 cm rồi vò chúng xoắn lại với nhau. “Cái thứ rau này có lá mảnh như lá lúa, dài chừng 3 gang, lại mọc ở dưới khe suối nên rất nhiều bùn, phải làm rau thật kỹ mới ăn được …”, vừa nói, chị Lệ vừa không ngơi tay.
Tất nhiên, rau xôộc xoạc sẽ khó nuốt khi ăn không, ngoài giá, rau thơm, búp chuối trộn cùng, bí quyết nằm ở khâu pha chế nước chấm. Chị Lệ vằm nhỏ thịt ba chỉ rồi xào qua với ném, cuối cùng là đổ nước ruốc vào. Chảo sôi sùng sục, mùi của nước chấm bốc lên sực nức, rát cả mũi. “Xôộc xoạc chấm với nước ruốc ba chỉ là đúng bài nhất hoặc cũng có thể ăn kèm với cá lóc um chua. Nhưng ông bà xưa chỉ ăn với dưa môn, ngày đó tiền bạc đâu mà ăn cá thịt…”, chị Lệ mỉm cười nói.
Một khi xôộc xoạc đã lên mâm chỉ cần ăn với cơm trắng cũng tuyệt cú mèo. Toan đụng đũa thì bà Nguyễn Thị Sưa (84 tuổi, mẹ chị Lệ) nhắc : “Ăn món này đừng sợ…xấu. Phải há miệng hết cỡ, ăn một miếng to mới ngon”. Tôi làm y vậy và tưởng tượng vòm miệng của mình như một “máy nghiền khổng lồ”, trong đó có vị thanh thanh của rau xôộc xoạc, vị béo ngậy của thịt và sự mặn mòi của ruốc. Tất cả cùng quyện vào nhau, xôộc xoạc, xôộc xoạc…loáng cái ngoảnh lại dĩa rau to đã hết tự lúc nào.
2. Phàm là người Gio Linh khi còn là một đứa trẻ đều đã được nghe lời ru bên vành nôi của bà, của mẹ rằng: “Ầu ơ…Muốn ăn cá, tôm thì về Gio Mai, Gio Việt/ Muốn ăn rau liệt thì về miết Gio An”. Gio An, hẳn rồi, đó là vùng đất đỏ bazan phía tây Quảng Trị, nơi bạt ngàn những vườn cao su đứng thẳng hàng, từng bước vào thơ nhạc chiến tranh với:“Tiếng trống trận từ Gio An vọng tới. Rừng núi ta ơi! Hãy hát vui chung cùng bản làng. Mừng thắng trận Gio An…” (Tiếng đàn Ta Lư, Huy Thục).
Chưa hết, Gio An có làng Hảo Sơn, nơi vẫn còn hiển diện những chiếc giếng cổ được người Chăm Pa đắp bằng đá ong, bốn mùa của hàng trăm năm qua nước chảy róc rách. Và cũng chính đó là nơi duy nhất của tỉnh Quảng Trị trồng được rau liệt, dân Hảo Sơn cũng không “quen” trồng loại rau khác. Có người “ghen tị” quá đỗi mà bĩu môi rằng : “Cứ như thể rau liệt là của riêng mảnh làng ấy…”.
Một chiều mưa lất phất ở Hảo Sơn, Dũng, một “nhà báo làng” dẫn tôi đến ruộng cải xoong (tên gọi khác của rau liệt) mà không quên thể hiện sự hiểu biết của mình: “Cạnh giếng Ông, giếng Bà, giếng Gai, giếng Tép cổ xưa đều có những ruộng rau liệt. Cái thứ rau này kiêu kỳ lắm, chỉ sống được ở những nơi nước chảy và trong…”.
Xắn ống quần lội dọc máng nước của giếng Ông mát rượi, hai bên là những thảm rau liệt dập dềnh trên mặt nước, tôi nghe bà Vân, người có ba đời trồng rau liệt ở khu vực này mách nhỏ rằng: “Rau liệt mọc chẳng theo một trật tự nào, rễ của chúng chỉ bám hờ trên đá, còn phần thân đung đưa theo dòng nước chảy. Nói là trồng rau nhưng sau khi xuống giống, chúng tôi cứ để tự nhiên thế, đến mùa là hái chứ công sức bỏ ra không nhiều. Dễ là vậy nhưng hễ trồng rau liệt ngoài giếng cổ, nơi chỉ có nước ứ và bẩn thì rau đổ rạp, quắt queo hết…”.
< Vườn rau liệt của bà Vân.
Hồ như chính những chiếc giếng cổ xưa là “mẹ đẻ” của loại rau này, khi giếng hết nước cũng có nghĩa là rau sẽ chết. Cứ tạm giả thiết vậy đi bởi hỏi quanh từ già đến trẻ trong cái làng này thì nào ai biết rau liệt có từ bao giờ đâu? Cho dù cái thứ rau thuộc dòng “hàng hiếm” này được gắn mác làng Hảo Sơn vào Nam ra Bắc, mang lại cơm áo cho bao người… Ví như bà Vân, với ruộng rau tí tẹo đó mà mỗi mùa bà cũng kiếm được vài chục triệu đồng. Tiếc rằng, tuổi thọ của rau liệt ngắn ngủi, chỉ tốt tươi giữa buổi mưa phùn gió bấc, còn qua đến giêng hai, lá sẽ chuyển màu xanh thẫm và có vị đăng đắng nên chẳng được ngó ngàng…
Chuyện trò hăng say nhưng tôi để ý chốc chốc anh Dũng lại quờ tay ngắt mấy đọt rau liệt, chao qua dưới nước rồi bỏ lên miệng nhai ngon lành. Anh bảo rau liệt có thể dùng nấu canh, luộc nhưng ngon nhất khi ăn sống, sang trọng một tí thì có thể đảo qua với thịt bò tái và trứng gà. “Cái mùi vị của rau liệt khó diễn tả lắm và không phải ai cũng chịu được. Nhưng có một điều chắc chắn là hễ ai ăn được thì sẽ nghiền luôn…”, anh Dũng nói.
< Rau rớn (dớn) luộc.
3. Sẽ thật thiếu sót khi không nhắc đến rau rớn, loài rau thường mọc ở vùng trung du, đồi núi như Cam Lộ, Đakrông khiến bao kẻ sành ăn “mê mệt”. Hay ven biển Cửa Tùng có rau mứt (rong biển) dùng để nấu cùng cháo vạc giường (cháo bột) ăn mãi không biết no. Khi đã chán với những hương vị thân quen, dân Quảng Trị còn gộp thập cẩm các thứ rau quanh vườn nhà (từ rau sam, rau dền, rau khoai đến rau ngót, mồng tơi, mã đề, rau má, rau cải, rau cúc…) để nấu canh và gọi đó là canh rau tập tàng…
Có câu chuyện tôi đã từng nghe ai đó kể rằng ở bên Tây bên Tàu, bó rau muống có khi đắt hơn con gà nhưng cớ gì phải đi xa xôi, chỉ ở đất Quảng Trị thôi, nếu không gặp “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” dẫu có bỏ vàng thỏi cũng chưa chắc được ăn những loại rau ngồ ngộ này, dẫu cơn thèm đã lên quay quắt. Vậy mới nói, qua rồi cái thời “rau ráng” là món ăn của… nhà nghèo.
Du lịch, GO! - Theo NGUYỄN PHÚC (Quảng Trị Online), internet
Độc đáo chợ lùi ở Hà Giang
Hà Giang có rất nhiều chợ: chợ Phố Cáo, chợ Phó Bảng, chợ Sủng Là, chợ Lũng Phìn, chợ Ma Lé, chợ Đồng Văn, chợ Mèo Vạc, chợ Sà Phìn…
Đa phần trong số đó là những phiên 'chợ lùi' và chỉ có ở Hà Giang - vùng đất địa đầu Tổ quốc mới có những phiên chợ lùi độc đáo đến vậy. Chợ lùi họp một tuần một lần, là thời gian vui nhất trong tuần với bà con các dân tộc thiểu số vùng cao xa xôi này.
Trong các phiên chợ ấy, chỉ có chợ Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc được họp phiên cố định vào ngày chủ nhật, còn lại là những phiên chợ lùi. Nghĩa là chợ họp luân phiên một tuần một lần và tuần sau lùi lại một ngày so với tuần trước.
< Người dân bản làng từ núi cao nô nức xuống chợ.
Chẳng hạn tuần này chợ họp vào chủ nhật, thì tuần sau sẽ họp vào thứ bảy, tuần tiếp theo sẽ họp vào thứ sáu, tuần sau nữa sẽ họp vào thứ 5... cứ thế lùi dần.
< Những sạp hàng bán đủ thứ thiết yếu nhất. Từ những gói gia vị cho đến những gói mì tôm, đồ ăn vặt cho đám trẻ.
Nếu tính theo kiểu chợ lùi, thật khó để xác định ngày đến chợ cho chuẩn xác vì độ lệch cao. Nhưng có một cách tính khác để bạn đến chợ đúng ngày và đây cũng chính là cách tính của bà con các dân tộc vùng cao này.
< Mỗi phiên chợ đều diễn ra từ lúc mặt trời chưa mọc đến quá trưa.
Nói là lùi nhưng chính xác là Chợ 6 ngày, có nghĩa là trong 12 con giáp nó chỉ rơi vào 2 con giáp.
Chợ Lũng Phìn : Ngày Dần - Ngày Thân.
Chợ Sà Phìn : Ngày Tỵ - Ngày Hợi.
Chợ Phó Bảng : Ngày Tý - Ngày Ngọ.
Chợ Ma Lé: Ngày Tý – Ngày Ngọ.
Chợ lùi họp từ lúc mặt trời chưa tỉnh giấc cho đến khi cao đến tầm con sào thì tan. Các bản làng từ núi cao nô nức xuống chợ.
Từ tờ mờ sáng, đã thấy bóng người bóng ngựa xa xa. Những mái đầu nhấp nhô rồi dần hiện rõ trên con đường, người đi xe máy đến chợ, kẻ dắt ngựa, người đi theo gia đình, theo bạn bè, hay cùng chồng cùng con lên chợ.
Ai cũng xúng xính những chiếc váy đẹp nhất, thồ theo đằng sau đủ thứ mang đến chợ từ con gà đến đàn lợn líu ríu dưới chân, từ những chiếc váy đến con dao mài sắc. Họ đi bộ từ sớm, xúng xính váy áo, tranh thủ ngày chợ mua thứ nọ thứ kia mang về. Lũ trẻ được đến chợ thỏa thích nô đùa. Có đứa túm tụm lại với đám bạn, đứa trông hàng cùng mẹ, đứa còn ẵm ngửa cũng được địu đến chợ. Tiếng hò hét nô đùa náo động cả khu chợ.
Dù là dân tộc nào, trên tay họ vẫn có chung một chiếc suốt làm sợi đay, từ những cô thiếu nữ 14-15 cho đến cụ già đã ngoại lục tuần móm mém. Cả khu chợ như một vườn hoa di động, luân chuyển liên tục, màu sắc cứ hết từ nơi này sang nơi nọ, trong ánh nắng chan hoà buổi sớm. Những sạp hàng bán đủ thứ thiết yếu nhất. Từ những gói gia vị cho đến những gói mì tôm, đồ ăn vặt cho đám trẻ. Món ăn sáng có thắng cố, mì tôm với sốt vang và sắn đựng trong những chiếc gùi. Những quả óc chó hay gừng tươi được bán nhiều.
Trong một góc chợ, một cụ già đang khâu giày trên chiếc đe, ở một góc khác một sạp hàng may với chị thợ đang luôn tay cắt váy cho khách. Nhưng hấp dẫn nhất với đám khách hiếu kì chính là những sạp bán khăn thổ cẩm và váy. Với giá 20.000 đồng cho một chiếc khăn sặc sỡ, chúng tôi ai cũng mua vài chiếc về làm quà.
Chợ đến gần trưa bắt đầu vãn. Những chiếc gùi đã đựng đầy những mặt hàng thiết yếu, con ngựa thồ đủng đỉnh ra về, theo sau thế nào cũng là một ông chồng đã say sưa khật khưỡng và bà vợ lặng lẽ phía sau. Phiên chợ đơn giản và bình dị như chính cuộc sống của những bà con dân tộc vùng cao nơi địa đầu tổ quốc này.
Du lịch, GO! - Theo Ngôi Sao, Vietnamnay...
Đa phần trong số đó là những phiên 'chợ lùi' và chỉ có ở Hà Giang - vùng đất địa đầu Tổ quốc mới có những phiên chợ lùi độc đáo đến vậy. Chợ lùi họp một tuần một lần, là thời gian vui nhất trong tuần với bà con các dân tộc thiểu số vùng cao xa xôi này.
Trong các phiên chợ ấy, chỉ có chợ Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc được họp phiên cố định vào ngày chủ nhật, còn lại là những phiên chợ lùi. Nghĩa là chợ họp luân phiên một tuần một lần và tuần sau lùi lại một ngày so với tuần trước.
< Người dân bản làng từ núi cao nô nức xuống chợ.
Chẳng hạn tuần này chợ họp vào chủ nhật, thì tuần sau sẽ họp vào thứ bảy, tuần tiếp theo sẽ họp vào thứ sáu, tuần sau nữa sẽ họp vào thứ 5... cứ thế lùi dần.
< Những sạp hàng bán đủ thứ thiết yếu nhất. Từ những gói gia vị cho đến những gói mì tôm, đồ ăn vặt cho đám trẻ.
Nếu tính theo kiểu chợ lùi, thật khó để xác định ngày đến chợ cho chuẩn xác vì độ lệch cao. Nhưng có một cách tính khác để bạn đến chợ đúng ngày và đây cũng chính là cách tính của bà con các dân tộc vùng cao này.
< Mỗi phiên chợ đều diễn ra từ lúc mặt trời chưa mọc đến quá trưa.
Nói là lùi nhưng chính xác là Chợ 6 ngày, có nghĩa là trong 12 con giáp nó chỉ rơi vào 2 con giáp.
Chợ Lũng Phìn : Ngày Dần - Ngày Thân.
Chợ Sà Phìn : Ngày Tỵ - Ngày Hợi.
Chợ Phó Bảng : Ngày Tý - Ngày Ngọ.
Chợ Ma Lé: Ngày Tý – Ngày Ngọ.
Chợ lùi họp từ lúc mặt trời chưa tỉnh giấc cho đến khi cao đến tầm con sào thì tan. Các bản làng từ núi cao nô nức xuống chợ.
Từ tờ mờ sáng, đã thấy bóng người bóng ngựa xa xa. Những mái đầu nhấp nhô rồi dần hiện rõ trên con đường, người đi xe máy đến chợ, kẻ dắt ngựa, người đi theo gia đình, theo bạn bè, hay cùng chồng cùng con lên chợ.
Ai cũng xúng xính những chiếc váy đẹp nhất, thồ theo đằng sau đủ thứ mang đến chợ từ con gà đến đàn lợn líu ríu dưới chân, từ những chiếc váy đến con dao mài sắc. Họ đi bộ từ sớm, xúng xính váy áo, tranh thủ ngày chợ mua thứ nọ thứ kia mang về. Lũ trẻ được đến chợ thỏa thích nô đùa. Có đứa túm tụm lại với đám bạn, đứa trông hàng cùng mẹ, đứa còn ẵm ngửa cũng được địu đến chợ. Tiếng hò hét nô đùa náo động cả khu chợ.
Dù là dân tộc nào, trên tay họ vẫn có chung một chiếc suốt làm sợi đay, từ những cô thiếu nữ 14-15 cho đến cụ già đã ngoại lục tuần móm mém. Cả khu chợ như một vườn hoa di động, luân chuyển liên tục, màu sắc cứ hết từ nơi này sang nơi nọ, trong ánh nắng chan hoà buổi sớm. Những sạp hàng bán đủ thứ thiết yếu nhất. Từ những gói gia vị cho đến những gói mì tôm, đồ ăn vặt cho đám trẻ. Món ăn sáng có thắng cố, mì tôm với sốt vang và sắn đựng trong những chiếc gùi. Những quả óc chó hay gừng tươi được bán nhiều.
Trong một góc chợ, một cụ già đang khâu giày trên chiếc đe, ở một góc khác một sạp hàng may với chị thợ đang luôn tay cắt váy cho khách. Nhưng hấp dẫn nhất với đám khách hiếu kì chính là những sạp bán khăn thổ cẩm và váy. Với giá 20.000 đồng cho một chiếc khăn sặc sỡ, chúng tôi ai cũng mua vài chiếc về làm quà.
Chợ đến gần trưa bắt đầu vãn. Những chiếc gùi đã đựng đầy những mặt hàng thiết yếu, con ngựa thồ đủng đỉnh ra về, theo sau thế nào cũng là một ông chồng đã say sưa khật khưỡng và bà vợ lặng lẽ phía sau. Phiên chợ đơn giản và bình dị như chính cuộc sống của những bà con dân tộc vùng cao nơi địa đầu tổ quốc này.
Du lịch, GO! - Theo Ngôi Sao, Vietnamnay...
Lên Tây Bắc chơi Tó má lẹ.
Trong hành trình lên với vùng cao Tây Bắc, nếu được hòa mình vào một lễ hội truyền thống của các cộng đồng dân tộc nơi đây thì thực là một điều may mắn cho du khách.
< Tó Má Lẹ là một trò chơi truyền thống của người Thái ở Tây Bắc.
Đến với những lễ hội này, du khách không chỉ được khám phá những nét đẹp trong đời sống văn hóa, tinh thần, tâm linh của cộng đồng, mà còn có cơ hội được tham gia những trò chơi dân gian độc đáo, có tính đồng đội và đòi hỏi sự khéo léo, dẻo dai...
< Người ta dùng chính quả của cây đó để dựng 1 hàng sau đó dùng quả khác ném đổ và gọi là trò Ném quả Má Lẹ (Tó Má Lẹ).
Với cái dáng cao dong dỏng và những nụ cười hút hồn, các cô gái Thái không chỉ khiến các chàng trai mê mẩn vì vẻ ngoài hấp dẫn mà còn bởi sự hồn nhiên, vô tư trong khi chơi trò Tó Má Lẹ.
< Mỗi lần chơi, Tó Má Lẹ có từ 3 đến 5 bàn tùy theo quy định của người tham gia chơi. Bàn đầu tiên là ném quả tròn sao cho đổ hàng quả được xếp trước đó.
Tó má lẹ theo tiếng Thái có nghĩa là đánh (hoặc chơi) má lẹ. Má lẹ là tên một loại quả rừng có vỏ cứng, tròn và dẹt như hình chiếc bánh giầy nhỏ. Trò chơi Tó má lẹ đơn giản, tất cả mọi người đều có thể tham gia, nhưng phần đông người chơi vẫn là phụ nữ. Người ta dùng những quả má lẹ đã được mài bằng một cạnh để dựng lên trên sân chơi gọi là Cái. Những quả má lẹ còn nguyên hình tròn được dùng làm Con, dùng để đánh vào Cái.
< Bàn thứ 2, quả cái được đặt lên đùi, người chơi búng sao cho quả cái bay đi càng xa càng tốt. Nếu đổ được hàng quả dựng thì thắng.
Để chơi trò này, chỉ cần một bãi đất nhỏ, cũng có khi những người phụ nữ Thái bày má lẹ chơi ngay dưới gầm nhà sàn. Chơi trò này, ít nhất cần có 2 người, chia ra làm 2 đội. Nếu càng đông người thì trò chơi càng vui.
< Nếu quả cái vẫn chưa đến hàng quả dựng cần phải đánh đổ, người chơi được phép búng tiếp.
< Trong trường hợp nếu bạn không làm đổ được hàng quả dựng ở đích, bạn sẽ phải chơi lại màn đó.
Trò Tó má lẹ có luật chơi đơn giản, trên sân người ta kẻ ra 3 vạch. Vạch thứ nhất - vạch xuất phát được kẻ ở đầu sân là chỗ đứng của người chơi. Vạch thứ 2 là vạch để người chơi đánh dấu điểm đánh và đặt Cái. Vạch thứ 3 (vạch đánh) ở giữa vạch thứ nhất và vạch thứ 2, khoảng cách từ vạch đánh đến điểm đánh tùy vào khả năng của các đội chơi.
< Màn tiếp theo là đá quả sao cho đổ hàng quả dựng ở đích. Màn này yêu cầu người chơi phải đặt quả cái trên mũi chân. Sau vài bước nhảy, người chơi phải đá quả Má Lẹ bay đi và làm đổ quả ở đích.
Tó má lẹ có nhiều bước chơi nhưng thông thường người ta chơi theo 5 bước: Bước thứ nhất người chơi đặt má lẹ lên đầu gối, dùng ngón cái bật má lẹ sao cho trúng má lẹ đội bạn và bay đến đích hoặc quá đich theo thoả thuận; Bước thứ hai người chơi đúng ở vạch quy định tung má lẹ về phía hàng má lẹ đội bạn, má lẹ dừng ở điểm nào, lấy điểm đó làm điểm để đánh.
< Ngoài các bàn cơ bản trên ra, người chơi cũng có thể đứng ở vạch ném đổ quả ở đích hoặc khó hơn là lăn quả cái sao cho nó chạy thẳng và làm đổ quả.
Bước thứ ba người chơi dùng tay búng má lẹ từ điểm đánh sao cho trúng má lẹ Cái của đội bạn; Bước thứ tư, đặt má lẹ lên mu bàn chân, vừa nhảy vừa dùng chân đánh má lẹ sao cho má lẹ bắn vào má lẹ đội bạn.
< Về cơ bản, trò chơi này khá giống trò đánh đáo của người Kinh khi quả cái và quả đích đều được làm bằng hình tròn và việc cần phải làm là cái này phải chạm được vào cái kia.
Bước cuối cùng người đánh tung má lẹ đánh dấu vạch đánh, rồi từ vạch đánh dùng má lẹ của mình đánh cho trúng má lẹ đội bạn. Người nào, đội nào vượt qua được cả năm bước chơi trên sẽ thắng cuộc.
Trò Tó má lẹ của người Thái Tây Bắc cũng có những điểm khác nhau chút ít tùy theo từng địa phương, thôn bản. Tuy nhiên, Tó má lẹ vẫn có một điểm chung luôn thu hút người chơi trong các dịp lễ hội.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ An Ninh Thủ Đô, Thể Thao Văn Hóa
< Tó Má Lẹ là một trò chơi truyền thống của người Thái ở Tây Bắc.
Đến với những lễ hội này, du khách không chỉ được khám phá những nét đẹp trong đời sống văn hóa, tinh thần, tâm linh của cộng đồng, mà còn có cơ hội được tham gia những trò chơi dân gian độc đáo, có tính đồng đội và đòi hỏi sự khéo léo, dẻo dai...
< Người ta dùng chính quả của cây đó để dựng 1 hàng sau đó dùng quả khác ném đổ và gọi là trò Ném quả Má Lẹ (Tó Má Lẹ).
Với cái dáng cao dong dỏng và những nụ cười hút hồn, các cô gái Thái không chỉ khiến các chàng trai mê mẩn vì vẻ ngoài hấp dẫn mà còn bởi sự hồn nhiên, vô tư trong khi chơi trò Tó Má Lẹ.
< Mỗi lần chơi, Tó Má Lẹ có từ 3 đến 5 bàn tùy theo quy định của người tham gia chơi. Bàn đầu tiên là ném quả tròn sao cho đổ hàng quả được xếp trước đó.
Tó má lẹ theo tiếng Thái có nghĩa là đánh (hoặc chơi) má lẹ. Má lẹ là tên một loại quả rừng có vỏ cứng, tròn và dẹt như hình chiếc bánh giầy nhỏ. Trò chơi Tó má lẹ đơn giản, tất cả mọi người đều có thể tham gia, nhưng phần đông người chơi vẫn là phụ nữ. Người ta dùng những quả má lẹ đã được mài bằng một cạnh để dựng lên trên sân chơi gọi là Cái. Những quả má lẹ còn nguyên hình tròn được dùng làm Con, dùng để đánh vào Cái.
< Bàn thứ 2, quả cái được đặt lên đùi, người chơi búng sao cho quả cái bay đi càng xa càng tốt. Nếu đổ được hàng quả dựng thì thắng.
Để chơi trò này, chỉ cần một bãi đất nhỏ, cũng có khi những người phụ nữ Thái bày má lẹ chơi ngay dưới gầm nhà sàn. Chơi trò này, ít nhất cần có 2 người, chia ra làm 2 đội. Nếu càng đông người thì trò chơi càng vui.
< Nếu quả cái vẫn chưa đến hàng quả dựng cần phải đánh đổ, người chơi được phép búng tiếp.
< Trong trường hợp nếu bạn không làm đổ được hàng quả dựng ở đích, bạn sẽ phải chơi lại màn đó.
Trò Tó má lẹ có luật chơi đơn giản, trên sân người ta kẻ ra 3 vạch. Vạch thứ nhất - vạch xuất phát được kẻ ở đầu sân là chỗ đứng của người chơi. Vạch thứ 2 là vạch để người chơi đánh dấu điểm đánh và đặt Cái. Vạch thứ 3 (vạch đánh) ở giữa vạch thứ nhất và vạch thứ 2, khoảng cách từ vạch đánh đến điểm đánh tùy vào khả năng của các đội chơi.
< Màn tiếp theo là đá quả sao cho đổ hàng quả dựng ở đích. Màn này yêu cầu người chơi phải đặt quả cái trên mũi chân. Sau vài bước nhảy, người chơi phải đá quả Má Lẹ bay đi và làm đổ quả ở đích.
Tó má lẹ có nhiều bước chơi nhưng thông thường người ta chơi theo 5 bước: Bước thứ nhất người chơi đặt má lẹ lên đầu gối, dùng ngón cái bật má lẹ sao cho trúng má lẹ đội bạn và bay đến đích hoặc quá đich theo thoả thuận; Bước thứ hai người chơi đúng ở vạch quy định tung má lẹ về phía hàng má lẹ đội bạn, má lẹ dừng ở điểm nào, lấy điểm đó làm điểm để đánh.
< Ngoài các bàn cơ bản trên ra, người chơi cũng có thể đứng ở vạch ném đổ quả ở đích hoặc khó hơn là lăn quả cái sao cho nó chạy thẳng và làm đổ quả.
Bước thứ ba người chơi dùng tay búng má lẹ từ điểm đánh sao cho trúng má lẹ Cái của đội bạn; Bước thứ tư, đặt má lẹ lên mu bàn chân, vừa nhảy vừa dùng chân đánh má lẹ sao cho má lẹ bắn vào má lẹ đội bạn.
< Về cơ bản, trò chơi này khá giống trò đánh đáo của người Kinh khi quả cái và quả đích đều được làm bằng hình tròn và việc cần phải làm là cái này phải chạm được vào cái kia.
Bước cuối cùng người đánh tung má lẹ đánh dấu vạch đánh, rồi từ vạch đánh dùng má lẹ của mình đánh cho trúng má lẹ đội bạn. Người nào, đội nào vượt qua được cả năm bước chơi trên sẽ thắng cuộc.
Trò Tó má lẹ của người Thái Tây Bắc cũng có những điểm khác nhau chút ít tùy theo từng địa phương, thôn bản. Tuy nhiên, Tó má lẹ vẫn có một điểm chung luôn thu hút người chơi trong các dịp lễ hội.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ An Ninh Thủ Đô, Thể Thao Văn Hóa
Popular Posts
-
H à Giang có rất nhiều chợ: chợ Phố Cáo, chợ Phó Bảng, chợ Sủng Là, chợ Lũng Phìn, chợ Ma Lé, chợ Đồng Văn, chợ Mèo Vạc, chợ Sà Phìn… Đa phầ...
-
C hùa Vạn Đức tọa lạc số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh). Chùa do HT.Thích Trí Tịnh, đời thứ 41 dòng t...
-
(Metinfo) - A i cũng biết khổ qua nguyên trái hầm thịt nạc bằm hoặc cá thác lác quết nước muối, khổ qua xắt lát xào thịt bò , khổ qua xắt lá...
-
(QN online) - C ùng với za’ră (thịt thọc ống), aví cuốt (bánh sừng trâu), ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc n...
-
G iữa nhịp sống hối hả và ồn ào của TP. Hồ Chí Minh, nếu bạn bước chân vào nơi rợp bóng cây, lộng gió và nghe tiếng chim hót sẽ là một niềm ...
-
(iHay) - T hị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên nằm giữa 2 thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và Tuy Hòa (Phú Yên). Có lẽ do nằm trong “vùng trũng” g...
-
(CTTĐTTTH) - A n Định Cung không chỉ nổi tiếng là một công trình đẹp của cung đình Huế mà nó còn là nơi chứng kiến nhiều nỗi thăng trầm của ...
-
(Daidoanket) - N gược dòng Long Đại, con thuyền đưa chúng tôi đi ngang qua các thôn, bản với những tên gọi dân gian như Ổ Gà, Lùi, Cập, Chuố...
-
A n Giang là tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam với một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên. Đây là tỉnh có dân số đông n...
-
K hu tưởng niệm các vua Hùng là một công trình thuộc khu Cổ Đại của dự án Công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc. Khu tưởng niệm tọa lạc trên ...
















.jpg)



























