Home » Posts filed under Thắng cảnh tâm linh
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Nét đẹp đền Thượng
(TQĐT) - Đền Thượng, thôn Tân Tiến, thị trấn Sơn Dương (Sơn Dương) là nơi thờ phụng và ngưỡng vọng Mẫu Thượng Ngàn. Đền được dựng trên đồi Đăng Châu, theo hướng Tây Nam, phía trước là dòng sông phó Đáy. Xung quanh có nhiều cây cổ thụ, bốn mùa rợp bóng mát tạo cho đền một vẻ đẹp thanh tao, cô tịch. Đền có kiến trúc chữ “nhất” gồm 3 gian ứng với 3 toà: Tiền tế, thượng điện và hậu cung.
Toà tiền tế là nơi đặt nhang án thờ. Phía trên toà tiền tế là bức hoành phi bằng gỗ có đề 4 chữ Hán “Thượng đẳng tối linh”, tức thần thượng đẳng rất linh thiêng. Phía dưới bức hoành phi có bộ cửa võng bằng gỗ, được sơn son thếp vàng.
Cửa võng được chạm khắc rất tinh sảo với chủ đề tứ quý, “lưỡng long chầu nguyệt”. Đây là sự kết hợp giữa kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng và chạm bong kênh rất nhuần nhuyễn, thể hiện đôi bàn tay tài hoa, óc thẩm mỹ và trí sáng tạo độc đáo, tinh tế của người nghệ nhân dân gian.

< Đền Thượng thôn Tân Tiến, thị trấn Sơn Dương.
Hai bên cột cái là đôi câu đối chữ Hán bằng gỗ: “Linh địa nguy nga thiên cổ miếu/Anh linh thánh mẫu vạn niên tồn” (Mảnh đất linh thiêng có ngôi miếu cổ nguy nga/Thánh Mẫu anh linh ngàn năm sáng soi mãi mãi). Chính giữa gian tiền tế là nơi hành lễ và đặt bàn thờ Thánh. Phía trong cùng toà tiền tế là nơi đặt tượng thờ Ngọc Hoàng thượng đế, tượng quan Nam Tào và tượng quan Bắc Đẩu. Gian bên phải của toà Tiền tế là nơi đặt bàn thờ bà chúa Sơn Trang và gian bên trái đặt quả chuông lớn. Quả chuông được đúc theo phong cách triều Nguyễn.
Phía trên toà hậu cung có treo bức cuốn thư. Đây là tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, là sự kết hợp của kỹ thuật chạm khắc dân gian và truyền thống, các mảng khối trong cuốn thư rất mềm mại và uyển chuyển. Bức cuốn thư được chạm khắc nguyên khối, phía ngoài là các linh vật (long, lân, quy, phượng), phía trong là hình bức cuốn thư đang mở có đề 4 chữ Hán “Vạn cổ anh linh” - Linh thiêng muôn đời.
Toà thượng điện của đền Thượng là nơi linh thiêng nhất - nơi đặt tượng thờ Tam toà Thánh Mẫu. Bộ tượng Tam toà Thánh Mẫu được đặt trong khám thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng. Khám thờ chính giữa đặt linh tượng Mẫu Thượng Thiên - là vị Mẫu cao nhất trong Tam toà Thánh Mẫu, cũng là nơi cao nhất trong di tích. Khám thờ bên phải là Mẫu Thoải và khám thờ bên trái là Mẫu Thượng Ngàn. Ngoài ngôi đền chính ra, đền Thượng còn có các đơn nguyên kiến trúc khác như am thờ Sơn thần (thần núi) và am thờ các cô. Quan Sơn thần là người trông coi vùng núi quanh khu vực đền, ngài được coi là thổ công của đền. Lầu thờ các cô là ba vị cô nương: cô Chín, cô Bơ, cô Bảy. Ba cô là thị tỳ của Thánh Mẫu.
< Lễ rước mẫu đền Thượng.
Trong năm, đền Thượng có các ngày Lễ: Lễ khai bút (2-1 âm lịch) là ngày mở cửa đền cho các sĩ tử trong làng đến trình làng, cầu mong cho con đường học hành rộng mở, thi cử đỗ đạt. Lễ Thượng nguyên (10-1 âm lịch) là ngày lễ giải hạn cho nhân dân, đồng thời cũng là ngày làm lễ xuống đồng, bắt đầu một mùa màng mới. Lễ cầu mưa (từ 8-4 đến 10-4 âm lịch) là ngày lễ cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi. Những lễ hội Đền Thượng đã trở thành nét đẹp văn hóa tâm linh của người dân thị trấn Sơn Dương, thu hút sự tham gia của khách thập phương.
Đền Thượng là công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn với nhiều di vật, hiện vật. Hiện ngôi đền còn nhiều văn bản, thư tịch Hán Nôm cổ như hoành phi, câu đối giá trị giúp nghiên cứu về nét văn hoá độc đáo của địa phương.
Xem thêm >
Theo Chúc Ngọc Huyền (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!
Toà tiền tế là nơi đặt nhang án thờ. Phía trên toà tiền tế là bức hoành phi bằng gỗ có đề 4 chữ Hán “Thượng đẳng tối linh”, tức thần thượng đẳng rất linh thiêng. Phía dưới bức hoành phi có bộ cửa võng bằng gỗ, được sơn son thếp vàng.
Cửa võng được chạm khắc rất tinh sảo với chủ đề tứ quý, “lưỡng long chầu nguyệt”. Đây là sự kết hợp giữa kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng và chạm bong kênh rất nhuần nhuyễn, thể hiện đôi bàn tay tài hoa, óc thẩm mỹ và trí sáng tạo độc đáo, tinh tế của người nghệ nhân dân gian.

< Đền Thượng thôn Tân Tiến, thị trấn Sơn Dương.
Hai bên cột cái là đôi câu đối chữ Hán bằng gỗ: “Linh địa nguy nga thiên cổ miếu/Anh linh thánh mẫu vạn niên tồn” (Mảnh đất linh thiêng có ngôi miếu cổ nguy nga/Thánh Mẫu anh linh ngàn năm sáng soi mãi mãi). Chính giữa gian tiền tế là nơi hành lễ và đặt bàn thờ Thánh. Phía trong cùng toà tiền tế là nơi đặt tượng thờ Ngọc Hoàng thượng đế, tượng quan Nam Tào và tượng quan Bắc Đẩu. Gian bên phải của toà Tiền tế là nơi đặt bàn thờ bà chúa Sơn Trang và gian bên trái đặt quả chuông lớn. Quả chuông được đúc theo phong cách triều Nguyễn.
Phía trên toà hậu cung có treo bức cuốn thư. Đây là tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, là sự kết hợp của kỹ thuật chạm khắc dân gian và truyền thống, các mảng khối trong cuốn thư rất mềm mại và uyển chuyển. Bức cuốn thư được chạm khắc nguyên khối, phía ngoài là các linh vật (long, lân, quy, phượng), phía trong là hình bức cuốn thư đang mở có đề 4 chữ Hán “Vạn cổ anh linh” - Linh thiêng muôn đời.
Toà thượng điện của đền Thượng là nơi linh thiêng nhất - nơi đặt tượng thờ Tam toà Thánh Mẫu. Bộ tượng Tam toà Thánh Mẫu được đặt trong khám thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng. Khám thờ chính giữa đặt linh tượng Mẫu Thượng Thiên - là vị Mẫu cao nhất trong Tam toà Thánh Mẫu, cũng là nơi cao nhất trong di tích. Khám thờ bên phải là Mẫu Thoải và khám thờ bên trái là Mẫu Thượng Ngàn. Ngoài ngôi đền chính ra, đền Thượng còn có các đơn nguyên kiến trúc khác như am thờ Sơn thần (thần núi) và am thờ các cô. Quan Sơn thần là người trông coi vùng núi quanh khu vực đền, ngài được coi là thổ công của đền. Lầu thờ các cô là ba vị cô nương: cô Chín, cô Bơ, cô Bảy. Ba cô là thị tỳ của Thánh Mẫu.
< Lễ rước mẫu đền Thượng.
Trong năm, đền Thượng có các ngày Lễ: Lễ khai bút (2-1 âm lịch) là ngày mở cửa đền cho các sĩ tử trong làng đến trình làng, cầu mong cho con đường học hành rộng mở, thi cử đỗ đạt. Lễ Thượng nguyên (10-1 âm lịch) là ngày lễ giải hạn cho nhân dân, đồng thời cũng là ngày làm lễ xuống đồng, bắt đầu một mùa màng mới. Lễ cầu mưa (từ 8-4 đến 10-4 âm lịch) là ngày lễ cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi. Những lễ hội Đền Thượng đã trở thành nét đẹp văn hóa tâm linh của người dân thị trấn Sơn Dương, thu hút sự tham gia của khách thập phương.
Đền Thượng là công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn với nhiều di vật, hiện vật. Hiện ngôi đền còn nhiều văn bản, thư tịch Hán Nôm cổ như hoành phi, câu đối giá trị giúp nghiên cứu về nét văn hoá độc đáo của địa phương.
Xem thêm >
Theo Chúc Ngọc Huyền (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!
Di tích lịch sử đền Pú Bảo
Đền Pú Bảo thuộc thôn Bản Kè B, xã Lăng Can (Lâm Bình) là di tích được xếp hạng và cấp bằng di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh.
Đền Pú Bảo là nơi thờ Quận công Thiếu Bảo tức Tướng quân Nguyễn Thế Quần, người xã Lăng Can, châu Vị Xuyên xưa. Năm 1750 (tức năm Cảnh Hưng thứ 11), vua Lê cảnh Hưng đã ban sắc phong cho Siêu nhạc bá Nguyễn Thế Quần vì đã có nhiều công tích trong việc đánh tan những phiến quân nổi loạn ở đạo Tuyên Quang với tư cách là một phụ đạo của đất phiên thần và được vua ban chiếu chỉ chuẩn cho chức Phòng sự liêm sự.
Sau khi siêu nhạc bá Nguyễn Thế Quần mất, người dân trong vùng đã lập lên đền thờ để ghi nhớ công ơn của ông, vị tướng quân quả cảm một thời đã giữ yên bờ cõi, bảo vệ nhân dân được sống trong thanh bình.
< Lễ trao tặng Bằng xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh đền Pú Bảo.
Di tích Đền Pú Bảo toạ lạc trên một khu đất bằng phẳng, thoáng đãng, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi đá cao, có địa thế hội tụ của linh khí núi sông. Được xây dựng từ thế kỷ 18, ngôi đền đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử và dần trở thành điểm di tích tâm linh nổi tiếng của vùng. Việc xây dựng Đền Pú Bảo không chỉ đền đáp công ơn của Quận công Nguyễn Thế Quần mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân.
Năm 2007, đền được trùng tu, giữ nguyên cốt các trụ nghiến và phần vị trí như xưa. Theo ông Nguyễn Thế Ninh, Bản Kè B, xã Lăng Can, thì cứ mỗi dịp rằm tháng Bảy, Tết Nguyên đán là bà con khắp nơi lại đổ về ngôi đền để cầu ước sức khỏe cho mình và người thân trong gia đình; cầu cho mùa màng được bội thu.
< Bảng sắc phong của vua Cảnh Hưng được đặt trang trọng trong Đền Pú Bảo.
Không chỉ thế, dòng họ Nguyễn của vị tướng quân Nguyễn Thế Quần hầu hết đều là người thông minh sáng dạ, có nhiều người xuất chúng đỗ đạt làm quan, học vị cao thấp đủ cả nên nhiều người dân trong vùng còn tìm đến đền Pú Bảo để cầu vận may cho việc thi cử đỗ đạt, đường công danh thẳng bước. Hàng năm, đến ngày mùng 3 tháng Giêng là người dân trong vùng lại tổ chức lễ Lồng tông tại khu vực sân đền Pú Bảo, cầu xin các ông Tam Thanh, thần nông, thổ địa phù hộ cho dân chúng một năm sản xuất được mùa, người người mạnh khỏe, nhà nhà yên vui.
Đền Pú Bảo cùng với lễ hội Lồng tông Lâm Bình là một nét văn hóa đặc sặc của người dân tộc Tày nơi đây, là điểm đến hấp dẫn của đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh, mở ra một hướng phát triển kinh tế cho mảnh đất vùng cao này.
Du lịch, GO! - ảnh internet
Đền Pú Bảo là nơi thờ Quận công Thiếu Bảo tức Tướng quân Nguyễn Thế Quần, người xã Lăng Can, châu Vị Xuyên xưa. Năm 1750 (tức năm Cảnh Hưng thứ 11), vua Lê cảnh Hưng đã ban sắc phong cho Siêu nhạc bá Nguyễn Thế Quần vì đã có nhiều công tích trong việc đánh tan những phiến quân nổi loạn ở đạo Tuyên Quang với tư cách là một phụ đạo của đất phiên thần và được vua ban chiếu chỉ chuẩn cho chức Phòng sự liêm sự.
Sau khi siêu nhạc bá Nguyễn Thế Quần mất, người dân trong vùng đã lập lên đền thờ để ghi nhớ công ơn của ông, vị tướng quân quả cảm một thời đã giữ yên bờ cõi, bảo vệ nhân dân được sống trong thanh bình.
< Lễ trao tặng Bằng xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh đền Pú Bảo.
Di tích Đền Pú Bảo toạ lạc trên một khu đất bằng phẳng, thoáng đãng, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi đá cao, có địa thế hội tụ của linh khí núi sông. Được xây dựng từ thế kỷ 18, ngôi đền đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử và dần trở thành điểm di tích tâm linh nổi tiếng của vùng. Việc xây dựng Đền Pú Bảo không chỉ đền đáp công ơn của Quận công Nguyễn Thế Quần mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân.
Năm 2007, đền được trùng tu, giữ nguyên cốt các trụ nghiến và phần vị trí như xưa. Theo ông Nguyễn Thế Ninh, Bản Kè B, xã Lăng Can, thì cứ mỗi dịp rằm tháng Bảy, Tết Nguyên đán là bà con khắp nơi lại đổ về ngôi đền để cầu ước sức khỏe cho mình và người thân trong gia đình; cầu cho mùa màng được bội thu.
< Bảng sắc phong của vua Cảnh Hưng được đặt trang trọng trong Đền Pú Bảo.
Không chỉ thế, dòng họ Nguyễn của vị tướng quân Nguyễn Thế Quần hầu hết đều là người thông minh sáng dạ, có nhiều người xuất chúng đỗ đạt làm quan, học vị cao thấp đủ cả nên nhiều người dân trong vùng còn tìm đến đền Pú Bảo để cầu vận may cho việc thi cử đỗ đạt, đường công danh thẳng bước. Hàng năm, đến ngày mùng 3 tháng Giêng là người dân trong vùng lại tổ chức lễ Lồng tông tại khu vực sân đền Pú Bảo, cầu xin các ông Tam Thanh, thần nông, thổ địa phù hộ cho dân chúng một năm sản xuất được mùa, người người mạnh khỏe, nhà nhà yên vui.
Đền Pú Bảo cùng với lễ hội Lồng tông Lâm Bình là một nét văn hóa đặc sặc của người dân tộc Tày nơi đây, là điểm đến hấp dẫn của đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh, mở ra một hướng phát triển kinh tế cho mảnh đất vùng cao này.
Du lịch, GO! - ảnh internet
Lên Thình Thình vỗ trống trời
(SGTT.VN) - Bầy chim te te nghe có hơi người, bay loạn xạ kêu ầm ĩ. Buổi chiều trong khuôn viên chùa Thình Thình dậy lên mùi lá khô thơm ngát. Bây giờ là mùa hạ, một đám mây đen ẩm ướt ở gần, báo hiệu một cơn mưa đêm. Hoà thượng Vĩnh Trường chống gậy trúc ra trước sân chùa điểm mấy hồi chuông. Bầy te te vẫn không thôi táo tác.
Chùa một sư
Hoà thượng Vĩnh Trường năm nay tròn 100 tuổi. Tấm lưng ngài còng rạp trên cây gậy nhưng đôi mắt hiền minh. Nhìn quanh quất cảnh chùa cô tịch giữa rừng rồi ngó vào đôi mắt ấy, khó có thể nói ông là bậc “tiểu ẩn ư sơn lâm”.
Ông dẫn khách ra vườn chùa dùng gậy thử mít trên cây. Cặp mắt sáng quắc cứ nheo nheo cười cười: “Tôi nhờ ăn mít trong vườn mà sống tới trăm tuổi đấy! Tôi mong tới 150 tuổi. Hồi đó chắc thiên hạ tò mò kéo tới đây trầm trồ: Ồ! Cái ông sư này làm sao trường thọ như thế? Khi đó tôi mới bộc lộ bí quyết! À, mà hôm nay anh gặp lộc nhà Phật, có trái mít chín đây”. Đầu gậy trúc gõ vào trái mít bình bịch, đôi mắt nhà sư vẫn cười cười.
Không phải những khe núi bí ẩn ở Tây Tạng mà các vị Lạt ma vào đó rồi không trở ra, Thình Thình nằm ngay trên đỉnh núi. Khoảng đất bằng phẳng ở độ cao gần 200m so với mực nước biển trồng toàn chè và mít.
Vườn chùa sạch bong, tĩnh lặng tới mức có thể đếm được từng tiếng lá rơi quạnh quẽ. Vừa bổ mít, nhà sư vừa nói: “Đêm nào canh ba tôi cũng dậy đọc kinh, rạng sáng ra vườn quét lá, múc nước tưới cây. Gần 15 năm nay rồi…”. Tôi nhìn quả chuông khắc bốn chữ xuân – hạ – thu – đông mùa nào gõ vào chữ đó.
Hoà thượng Vĩnh Trường vào chùa năm 16 tuổi, lên Thình Thình năm 1990. Ông là trụ trì đời thứ ba ở ngôi chùa được thiền sư Diệu Quang khai sơn sáng lập vào năm 1920. Chùa có tên chữ là Viên Giác Tự hoặc Thanh Thanh Sơn. Người dân trong vùng vẫn quen gọi là chùa Thình Thình theo tên ngọn núi. Từ đó đến nay, hoà thượng Vĩnh Trường là nhà sư duy nhất ở ngôi chùa này. Tôi chợt bất giác giật mình khi nghĩ đến quãng đường mười mấy năm, lão hoà thượng chỉ nói chuyện với cây cỏ và muông thú, thời gian còn lại hoàn toàn tịnh khẩu và hiếm tiếp xúc với người ngoài.
Tiếng trống giữa trời
< Chùa Thình Thình.
Từ chân núi Thình Thình, khách hành hương phải vượt chặng đường 4km trèo lên đỉnh, khu vực toạ lạc của ngôi chùa độc đáo này. Hai bên đường đầy những chùm quả chòi mòi màu tím. Nắng dịu đi dưới cánh những con chèo bẻo đuôi cờ cụp lượn. Vài người đốn củi bắt đầu xuống núi. Chiều hè yên ả thanh bình trên lối sỏi độc hành xa ngái. Trên một khúc quanh trống trải, ngó xuống bãi biển Ba Làng An xanh ngắt. Ngút tầm mắt phía tây là dãy Cà Ty. Xóm làng nằm ở dưới chân, chen giữa những cánh đồng xanh và ô ruộng bàn cờ vuông vức… Thế gian nhỏ bé nằm trong tầm mắt xa xăm. Nhìn thật kỹ, đôi khi bắt gặp những chiếc xe tải nhỏ như con kiến bò trên đường làng đầy bụi hồng bên dưới.
< Trước cổng tam quan này tiếng dậm thình thình vang xa nhất.
Khéo khen vị thiền sư đầu tiên khai sơn chùa Thình Thình. Một khoảng đất bằng phẳng chừng nửa hecta ngay giữa đỉnh núi chìm khuất trong rừng cây. Người dân trong vùng tin rằng thiền sư Diệu Quang là bậc thầy phong thuỷ, từng học được phép quy thuỷ của người Chăm khi cho đào một giếng nước đá ong trong khuôn viên cùng lúc với việc xây dựng chùa. Cội mai già 91 tuổi cùng cây bồ đề và quả chuông cổ khắc bốn chữ xuân – hạ – thu – đông là những dấu ấn hiện nay còn sót lại của vị thiền sư đã qua nhiều thăng trầm nơi cửa Phật. Sống giữa kiếp đời, trải qua những năm này tháng nọ, Thình Thình đôi khi vẫn là một nơi cần đến trong đời để chiêm nghiệm một mình trong cô độc.
< Sư thầy Thích Hạnh Diên, gậy trúc vỗ xuống đất phát những tiếng kêu kỳ lạ.
Núi Thình Thình còn gọi là Cổ Sơn. Cổ tức cái trống. Như thể chứng minh tên gọi bí ẩn này, hoà thượng Vĩnh Trường dẫn tôi ra phía trước sân chùa cạnh gốc bồ đề già. Ông đưa gậy lên nhẹ nhàng vận khí lực, nện đầu gậy xuống mặt đất. Lập tức không gian vang lên từng tiếng “thình thình” theo nhịp bước. Càng về phía giếng cổ, tiếng trống càng to hơn. Mùa thu tiếng trống vang hơn mùa đông. Hoà thượng kể, buổi chiều ông thường chống gậy trúc đi dạo trên mặt trống trời. Khi gậy hiệp với mặt đất tạo ra âm thanh vang lên trong một sát na rồi biến mất, tâm hồn cảm thấy thật vi diệu. Nói xong, lão hoà thượng dúi cây gậy trúc vào tay tôi trước khi thung dung quay gót: “Phật tử cứ thử xem trong tâm mình có nghe gì không?”.
< Chùa Thình Thình trong ngày lễ Húy Nhật tổ Khai sơn.
Ca dao Quảng Ngãi có câu:
“Núi Thình Thình, chùa cũng Thình Thình,
Ai lên đến đó cho mình hỏi thăm.
Vì đâu nên tiếng nên tăm,
Để cho miếng đất ngàn năm Thình Thình”.
Đường đến Thình Thình
- Núi Thình Thình nằm ở giữa địa phận hai xã Bình Tân và Bình Thanh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hình một con cá sấu. Đỉnh núi có một mảnh đất bằng phẳng khoảng 5 hecta, nơi có chùa Thình Thình toạ lạc. Trong khuôn viên chùa Thình Thình ngày xưa, bất cứ chỗ nào khi dùng chân hoặc gậy nện xuống mặt đất đều phát ra tiếng kêu “thình thình” như trống. Ngày nay, diện tích phát âm đã thu hẹp dần, chỉ còn lại một khoảng nhỏ nằm gần gốc bồ đề và giếng đá ong cổ trước sân chùa. Chùa Thình Thình từ trước đến nay chỉ có một vị sư trụ trì và tu tập tại đó.
< Hòa thượng Vĩnh Trường trụ trì chùa Thình Thình: “Có thể tôi sống đến 150 tuổi!”
- Đến Thình Thình có hai đường chính: hoặc đi từ trung tâm tỉnh lỵ Quảng Ngãi (khoảng 20km), xuôi theo bờ bắc sông Trà (theo đường xuống Sơn Mỹ) đến chợ Sa rẽ trái về hướng Thành cổ Châu Sa, men theo những cánh đồng lúa nhấp nhô núi đồi thuộc các xã Tịnh Châu, Tịnh Thiện... ra Bình Tân; hoặc theo Quốc lộ 1A đi về hướng bắc, ra đến cuối địa phận xã Tịnh Phong rẽ phải khoảng gần 10 km là đến đường lên chùa. Từ chân núi lên đến đỉnh sẽ phải đi bộ thêm 4km nữa.
Xem thêm >
Theo Sàigòn Tiếp Thị (Nguồn khác ghi của blog Hổ Phụ Tử - không tìm thấy link gốc)
Du lịch, GO!
Chùa một sư
Hoà thượng Vĩnh Trường năm nay tròn 100 tuổi. Tấm lưng ngài còng rạp trên cây gậy nhưng đôi mắt hiền minh. Nhìn quanh quất cảnh chùa cô tịch giữa rừng rồi ngó vào đôi mắt ấy, khó có thể nói ông là bậc “tiểu ẩn ư sơn lâm”.
Ông dẫn khách ra vườn chùa dùng gậy thử mít trên cây. Cặp mắt sáng quắc cứ nheo nheo cười cười: “Tôi nhờ ăn mít trong vườn mà sống tới trăm tuổi đấy! Tôi mong tới 150 tuổi. Hồi đó chắc thiên hạ tò mò kéo tới đây trầm trồ: Ồ! Cái ông sư này làm sao trường thọ như thế? Khi đó tôi mới bộc lộ bí quyết! À, mà hôm nay anh gặp lộc nhà Phật, có trái mít chín đây”. Đầu gậy trúc gõ vào trái mít bình bịch, đôi mắt nhà sư vẫn cười cười.
Không phải những khe núi bí ẩn ở Tây Tạng mà các vị Lạt ma vào đó rồi không trở ra, Thình Thình nằm ngay trên đỉnh núi. Khoảng đất bằng phẳng ở độ cao gần 200m so với mực nước biển trồng toàn chè và mít.
Vườn chùa sạch bong, tĩnh lặng tới mức có thể đếm được từng tiếng lá rơi quạnh quẽ. Vừa bổ mít, nhà sư vừa nói: “Đêm nào canh ba tôi cũng dậy đọc kinh, rạng sáng ra vườn quét lá, múc nước tưới cây. Gần 15 năm nay rồi…”. Tôi nhìn quả chuông khắc bốn chữ xuân – hạ – thu – đông mùa nào gõ vào chữ đó.
Hoà thượng Vĩnh Trường vào chùa năm 16 tuổi, lên Thình Thình năm 1990. Ông là trụ trì đời thứ ba ở ngôi chùa được thiền sư Diệu Quang khai sơn sáng lập vào năm 1920. Chùa có tên chữ là Viên Giác Tự hoặc Thanh Thanh Sơn. Người dân trong vùng vẫn quen gọi là chùa Thình Thình theo tên ngọn núi. Từ đó đến nay, hoà thượng Vĩnh Trường là nhà sư duy nhất ở ngôi chùa này. Tôi chợt bất giác giật mình khi nghĩ đến quãng đường mười mấy năm, lão hoà thượng chỉ nói chuyện với cây cỏ và muông thú, thời gian còn lại hoàn toàn tịnh khẩu và hiếm tiếp xúc với người ngoài.
Tiếng trống giữa trời
< Chùa Thình Thình.
Từ chân núi Thình Thình, khách hành hương phải vượt chặng đường 4km trèo lên đỉnh, khu vực toạ lạc của ngôi chùa độc đáo này. Hai bên đường đầy những chùm quả chòi mòi màu tím. Nắng dịu đi dưới cánh những con chèo bẻo đuôi cờ cụp lượn. Vài người đốn củi bắt đầu xuống núi. Chiều hè yên ả thanh bình trên lối sỏi độc hành xa ngái. Trên một khúc quanh trống trải, ngó xuống bãi biển Ba Làng An xanh ngắt. Ngút tầm mắt phía tây là dãy Cà Ty. Xóm làng nằm ở dưới chân, chen giữa những cánh đồng xanh và ô ruộng bàn cờ vuông vức… Thế gian nhỏ bé nằm trong tầm mắt xa xăm. Nhìn thật kỹ, đôi khi bắt gặp những chiếc xe tải nhỏ như con kiến bò trên đường làng đầy bụi hồng bên dưới.
< Trước cổng tam quan này tiếng dậm thình thình vang xa nhất.
Khéo khen vị thiền sư đầu tiên khai sơn chùa Thình Thình. Một khoảng đất bằng phẳng chừng nửa hecta ngay giữa đỉnh núi chìm khuất trong rừng cây. Người dân trong vùng tin rằng thiền sư Diệu Quang là bậc thầy phong thuỷ, từng học được phép quy thuỷ của người Chăm khi cho đào một giếng nước đá ong trong khuôn viên cùng lúc với việc xây dựng chùa. Cội mai già 91 tuổi cùng cây bồ đề và quả chuông cổ khắc bốn chữ xuân – hạ – thu – đông là những dấu ấn hiện nay còn sót lại của vị thiền sư đã qua nhiều thăng trầm nơi cửa Phật. Sống giữa kiếp đời, trải qua những năm này tháng nọ, Thình Thình đôi khi vẫn là một nơi cần đến trong đời để chiêm nghiệm một mình trong cô độc.
< Sư thầy Thích Hạnh Diên, gậy trúc vỗ xuống đất phát những tiếng kêu kỳ lạ.
Núi Thình Thình còn gọi là Cổ Sơn. Cổ tức cái trống. Như thể chứng minh tên gọi bí ẩn này, hoà thượng Vĩnh Trường dẫn tôi ra phía trước sân chùa cạnh gốc bồ đề già. Ông đưa gậy lên nhẹ nhàng vận khí lực, nện đầu gậy xuống mặt đất. Lập tức không gian vang lên từng tiếng “thình thình” theo nhịp bước. Càng về phía giếng cổ, tiếng trống càng to hơn. Mùa thu tiếng trống vang hơn mùa đông. Hoà thượng kể, buổi chiều ông thường chống gậy trúc đi dạo trên mặt trống trời. Khi gậy hiệp với mặt đất tạo ra âm thanh vang lên trong một sát na rồi biến mất, tâm hồn cảm thấy thật vi diệu. Nói xong, lão hoà thượng dúi cây gậy trúc vào tay tôi trước khi thung dung quay gót: “Phật tử cứ thử xem trong tâm mình có nghe gì không?”.
< Chùa Thình Thình trong ngày lễ Húy Nhật tổ Khai sơn.
Ca dao Quảng Ngãi có câu:
“Núi Thình Thình, chùa cũng Thình Thình,
Ai lên đến đó cho mình hỏi thăm.
Vì đâu nên tiếng nên tăm,
Để cho miếng đất ngàn năm Thình Thình”.
Đường đến Thình Thình
- Núi Thình Thình nằm ở giữa địa phận hai xã Bình Tân và Bình Thanh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hình một con cá sấu. Đỉnh núi có một mảnh đất bằng phẳng khoảng 5 hecta, nơi có chùa Thình Thình toạ lạc. Trong khuôn viên chùa Thình Thình ngày xưa, bất cứ chỗ nào khi dùng chân hoặc gậy nện xuống mặt đất đều phát ra tiếng kêu “thình thình” như trống. Ngày nay, diện tích phát âm đã thu hẹp dần, chỉ còn lại một khoảng nhỏ nằm gần gốc bồ đề và giếng đá ong cổ trước sân chùa. Chùa Thình Thình từ trước đến nay chỉ có một vị sư trụ trì và tu tập tại đó.
< Hòa thượng Vĩnh Trường trụ trì chùa Thình Thình: “Có thể tôi sống đến 150 tuổi!”
- Đến Thình Thình có hai đường chính: hoặc đi từ trung tâm tỉnh lỵ Quảng Ngãi (khoảng 20km), xuôi theo bờ bắc sông Trà (theo đường xuống Sơn Mỹ) đến chợ Sa rẽ trái về hướng Thành cổ Châu Sa, men theo những cánh đồng lúa nhấp nhô núi đồi thuộc các xã Tịnh Châu, Tịnh Thiện... ra Bình Tân; hoặc theo Quốc lộ 1A đi về hướng bắc, ra đến cuối địa phận xã Tịnh Phong rẽ phải khoảng gần 10 km là đến đường lên chùa. Từ chân núi lên đến đỉnh sẽ phải đi bộ thêm 4km nữa.
Xem thêm >
Theo Sàigòn Tiếp Thị (Nguồn khác ghi của blog Hổ Phụ Tử - không tìm thấy link gốc)
Du lịch, GO!
Chùa Vạn Đức: Cao ngất chánh điện.
Chùa Vạn Đức tọa lạc số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh). Chùa do HT.Thích Trí Tịnh, đời thứ 41 dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ, hiện là Đệ nhất Phó Pháp chủ kiêm Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN, khai sơn năm 1954.
Chùa Vạn Đức có nguồn gốc từ một ngôi nhà xưa do thí chủ Nguyễn Thị Hương hiến cúng. Sau khi tiếp nhận, Hòa thượng đã xây dựng lại thành chùa và đặt hiệu là “Vạn Đức tự”. Kể từ đó, chùa được mở rộng vào các năm 1964, 1989, 1993 và từ năm 2003 đến năm 2005, đại trùng tu toàn bộ ngôi chùa, trở nên khang trang như ngày nay.
< Ao bèo dưới chân tháp Quán Thế Âm Bồ tát, trong ao có thả rùa.
Chùa nằm trên khu đất rộng, kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên. Kiến trúc chùa bao gồm cổng tam quan, chánh điện và đài Liên hoa. Tam quan xây ba tầng, mái lợp ngói lưu ly màu xanh, trên các đầu đao có gắn hoa văn hình hoa sen cách điệu, nóc gắn hình “lưỡng long chầu Pháp luân”.
Qua khỏi tam quan là khoảng sân rộng trồng các loại cây kiểng, bonsai, tạo cảm giác mát mẻ và thanh tịnh. Bên trái sân chùa có cội bồ đề rợp mát. Đối diện cội bồ đề là một ao sen, giữa có đài Liên hoa vọt lên khỏi mặt nước, bên trong tôn trí tượng Quan Thế Âm Bồ tát. Phía sau sân chùa là những hàng cau cảnh và những bụi trúc xanh um, trông giống như một bức tranh thủy mặc sống động…
Chùa Vạn Đức xây bằng vật liệu vĩnh cửu với kỹ thuật hiện đại. Toàn thể ngôi chùa được đúc bằng bê-tông, tường gạch, móng cọc nhồi. Nền chùa và các bệ thờ đều dán đá granit màu xám. Tất cả các cửa và cầu thang đều làm bằng thép trắng. Hoa văn trang trí được đúc bằng xi-măng hoặc kết bằng các mảnh gạch men, vừa mang tính truyền thống nhưng lại tân kỳ.
Tòa chánh điện chùa Vạn Đức cao 43,5m, được xem là ngôi chùa có chánh điện cao nhất hiện nay, nhìn từ xa trông giống như một ngọn tháp chín tầng và hai tháp nhỏ năm tầng nhưng bên trong chỉ có hai tầng chính. Tầng trên là nội điện thờ Phật, có nhiều ô cửa sổ, bên ngoài có lan can, bên trong tôn trí tượng Phật Thích Ca và Tam thế Phật. Xung quanh có bốn lớp lan can giống như những tầng mây trắng, và mỗi vì sao là những ô cửa gió có hình chữ “Phật”.
Hai bên hông lan can là hai cầu thang dẫn lên nội điện. Nổi bật trên nền kiến trúc nội điện là bức phù điêu cội bồ đề và phong cảnh sông Ni Liên Thiền. Bức phù điêu được đắp bằng xi-măng trên vách sau chánh điện, xung quanh có tạc hình các vị thần Hộ pháp. Tầng trệt là giảng đường, dùng làm nơi thuyết pháp cho Phật tử; sát vách giữa thờ Tổ sư Đạt Ma tạc bằng đá cẩm thạch màu trắng toát và linh vị Hòa thượng Thiện Quang (1895-1953), bổn sư của Hòa thượng viện chủ. Phía sau giảng đường là một bích họa vẽ Hòa thượng Trí Tịnh đang ngồi dịch kinh.
Thực hiện công trình độc đáo này, kiến trúc sư Đỗ Thành Phương phải mất thời gian khá dài để hoàn thành bản vẽ, đồng thời phải mất 2 năm với hơn 60 thợ xây mới thực hiện xong phần chánh điện.
Có thể nói, chùa Vạn Đức là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo có quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Ngoài giá trị về mặt thẩm mỹ, công trình còn là một kiểu mẫu cho nghệ thuật tạo hình trong kiến trúc hiện đại. Đặc biệt, ngôi chánh điện cao nhất nước đã được xác lập kỷ lục Phật giáo Việt Nam…
Xem thêm >
Theo Phatgiao.org
Du lịch, GO!
Chùa Vạn Đức có nguồn gốc từ một ngôi nhà xưa do thí chủ Nguyễn Thị Hương hiến cúng. Sau khi tiếp nhận, Hòa thượng đã xây dựng lại thành chùa và đặt hiệu là “Vạn Đức tự”. Kể từ đó, chùa được mở rộng vào các năm 1964, 1989, 1993 và từ năm 2003 đến năm 2005, đại trùng tu toàn bộ ngôi chùa, trở nên khang trang như ngày nay.
< Ao bèo dưới chân tháp Quán Thế Âm Bồ tát, trong ao có thả rùa.
Chùa nằm trên khu đất rộng, kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên. Kiến trúc chùa bao gồm cổng tam quan, chánh điện và đài Liên hoa. Tam quan xây ba tầng, mái lợp ngói lưu ly màu xanh, trên các đầu đao có gắn hoa văn hình hoa sen cách điệu, nóc gắn hình “lưỡng long chầu Pháp luân”.
Qua khỏi tam quan là khoảng sân rộng trồng các loại cây kiểng, bonsai, tạo cảm giác mát mẻ và thanh tịnh. Bên trái sân chùa có cội bồ đề rợp mát. Đối diện cội bồ đề là một ao sen, giữa có đài Liên hoa vọt lên khỏi mặt nước, bên trong tôn trí tượng Quan Thế Âm Bồ tát. Phía sau sân chùa là những hàng cau cảnh và những bụi trúc xanh um, trông giống như một bức tranh thủy mặc sống động…
Chùa Vạn Đức xây bằng vật liệu vĩnh cửu với kỹ thuật hiện đại. Toàn thể ngôi chùa được đúc bằng bê-tông, tường gạch, móng cọc nhồi. Nền chùa và các bệ thờ đều dán đá granit màu xám. Tất cả các cửa và cầu thang đều làm bằng thép trắng. Hoa văn trang trí được đúc bằng xi-măng hoặc kết bằng các mảnh gạch men, vừa mang tính truyền thống nhưng lại tân kỳ.
Tòa chánh điện chùa Vạn Đức cao 43,5m, được xem là ngôi chùa có chánh điện cao nhất hiện nay, nhìn từ xa trông giống như một ngọn tháp chín tầng và hai tháp nhỏ năm tầng nhưng bên trong chỉ có hai tầng chính. Tầng trên là nội điện thờ Phật, có nhiều ô cửa sổ, bên ngoài có lan can, bên trong tôn trí tượng Phật Thích Ca và Tam thế Phật. Xung quanh có bốn lớp lan can giống như những tầng mây trắng, và mỗi vì sao là những ô cửa gió có hình chữ “Phật”.
Hai bên hông lan can là hai cầu thang dẫn lên nội điện. Nổi bật trên nền kiến trúc nội điện là bức phù điêu cội bồ đề và phong cảnh sông Ni Liên Thiền. Bức phù điêu được đắp bằng xi-măng trên vách sau chánh điện, xung quanh có tạc hình các vị thần Hộ pháp. Tầng trệt là giảng đường, dùng làm nơi thuyết pháp cho Phật tử; sát vách giữa thờ Tổ sư Đạt Ma tạc bằng đá cẩm thạch màu trắng toát và linh vị Hòa thượng Thiện Quang (1895-1953), bổn sư của Hòa thượng viện chủ. Phía sau giảng đường là một bích họa vẽ Hòa thượng Trí Tịnh đang ngồi dịch kinh.
Thực hiện công trình độc đáo này, kiến trúc sư Đỗ Thành Phương phải mất thời gian khá dài để hoàn thành bản vẽ, đồng thời phải mất 2 năm với hơn 60 thợ xây mới thực hiện xong phần chánh điện.
Có thể nói, chùa Vạn Đức là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo có quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Ngoài giá trị về mặt thẩm mỹ, công trình còn là một kiểu mẫu cho nghệ thuật tạo hình trong kiến trúc hiện đại. Đặc biệt, ngôi chánh điện cao nhất nước đã được xác lập kỷ lục Phật giáo Việt Nam…
Xem thêm >
Theo Phatgiao.org
Du lịch, GO!
Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên
Chùa Tam Bảo nằm ngay trung tâm thị xã Hà Tiên, tọa lac tại số 75* Phương Thành, phường Bình San, thị xã Hà Tiên - tỉnh Kiên Giang.
Chùa Tam Bảo còn có tên gọi là chùa Tiêu, là một trong 10 cảnh đẹp từng được Mạc Thiên Tứ ca ngợi qua bài vịnh Tiêu Tự Thần Chung khá nổi tiếng. Chùa được triều đình nhà Nguyễn ban biển sắc phong nên còn được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.
Theo sách Mạc Thị Gia Phả, sau khi triều đình nhà Thanh được thành lập tại Trung Hoa, một vị quan trung thành với nhà Minh là Mạc Cửu đã rời bỏ quê hương trôi dạt xuống vùng Đông Nam Á.
< Cổng chùa.
Năm 1695, ông thần Phục vua Chân Lạp và xin được đến khai phá vùng Mang Khảm. Đến năm 1714, Mạc Cửu xin sát nhập Mang Khảm vào xứ Đàng Trong. Chúa Hiển tông Nguyễn Phúc Chu đồng ý phong cho Mạc Cửu chức Tổng binh, sau phong Cửu Lộc hầu. Vùng Mang Khảm sau đó được đổi thành trấn Hà Tiên.
Sau một thời gian gầy dựng Hà Tiên, thân mẫu của ông là Thái Thái phu nhân cũng được đưa đến đây. Năm 1730, để có nơi chốn cho mẹ tu hành trong những năm cuối đời, Khai trấn Cửu Lộc Hầu Mạc Cửu đã cho xây dựng chùa Tam Bảo sau khi Thái Thái phu nhân quy y với Hòa thượng Ấn Hạ thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 35.
Tu hành được một thời gian, Thái Thái phu nhân tọa hóa trước Phật Đài. Mạc Cửu cho đúc kim thân của mẹ để thờ, đúc một Đại hồng chung để cúng và nghe tiếng chuông mà tưởng niệm mẹ hiền. Năm 1735, Mạc Cửu qua đời, con ông là Mạc Thiên Tứ (hay Mạc Thiên Tích) thay cha làm Đô đốc Tổng binh. Chính ông đã ca ngợi cảnh đẹp của chùa Tam Bảo Hà Tiên qua bài thơ Tiêu tự thần chung trong Hà Tiên thập vịnh.
Đời trụ trì đầu tiên của chùa Tam Bảo là hoà thượng Ấn Hạ cũng là vị hoà thượng khai nguyên cho Phật giáo xứ Hà Tiên.
Đến nay, chùa Tam Bảo đã trải qua 19 đời trụ trì là những vị chân tăng như hoà thượng Hoà Quang, thiền sư Nhất Đới, thiền sư Trí Tàng, thiền sư Hoằng Ân, thiền sư Hải Huệ, thiền sư Giác Ngạn, thiền sư Như Đức, thiền sư Như Khả, thiền sư Phước Chơn, hoà thượng Thuần Hạnh, Yết ma Phước Thành, hoà thượng Phước Ân (1920 - 1946), hoà thượng Phước Quang, hoà thượng Quảng Đức, hoà thượng Vĩnh Đạt, hoà thượng Chánh Định, thượng tọa Thiện Giác (1960 - 1974) và từ năm 1974 đến nay là ni sư Thích Nữ Như Hải (thế danh Huỳnh Thị Phước).
Từ ngày thành lập đến nay, chùa Tam Bảo đã được trùng tu nhiều lần do ngôi chùa xưa đã hỏng, chỉ còn dấu vết ở các bức tường thành. Hai lần trùng tu được xem là lớn nhất là trong thời gian trụ trì của hoà thượng Phước Ân (1920 - 1946) và trong thời gian trụ trì của ni sư Như Hải từ 1974. Lần trùng tu lớn thứ 1 là vào năm 1930, hoà thượng Phước Ân đã cho xây dựng lại chùa Tam Bảo với dáng vẻ khang trang uy nghiêm như ngày nay và cho trồng một số cây sao đến nay đã trở thành cổ thụ.
< Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni trước sân.
Lần thứ 2, sau khi được cử về trụ trì chùa Tam Bảo, ni sư Như Hải đã bắt đầu cho kiến tạo và trùng tu một số công trình như An vị Đức Quán Thế Âm Bồ Tát lộ thiên cao 5 m, nặng 7 tấn (1974), Lợp lại mái ngói Chánh điện và Nhà Tổ (1979), An vị tôn tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn (1987), An vị Đức Bổn sư Thích Ca ngồi dưới cội Bồ đề (1983), xây dựng cổng Tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ và chỉnh trang cảnh quan xung quanh chùa (1992), an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa.
Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Vị trí cao nhất thờ tượng Di Đà Tam Tôn. Pho tượng đức Phật A Di Đà bằng đồng, cao 1,40m, do ông Mạc Cửu cúng, được tôn trí ở giữa, hai bên đặt tượng Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí.
Kế tiếp có tượng đức Phật Thích Ca thành đạo, đức Phật Thích Ca khuyến thiện, tượng Thích Ca đản sanh và tượng đức Phật nhập Niết bàn. Đối diện bàn thờ Phật, có bàn thờ tượng Bồ tát Phổ Hiền, Hộ Pháp, Bồ tát Địa Tạng và Tiêu Diện.

< Tháp mộ Thái Thái Bà Bà ở sau chùa.
Ở sân trước chùa còn có phòng phát hành kinh sách, tranh tượng Phật giáo đa dạng, phong phú. Chung quanh chùa còn rải rác nhiều bức vách xây hồ tam hạp, cũ kỹ nhưng chắc chắn. Tính ra, bức tường cổ này đã tồn tại gần 300 năm ròng.
Trước cổng chùa có đôi câu đối:
Nhất trần bất nhiễm Bồ Đề địa.
Vạn thiện đồng quy Bát Nhã môn.
Tạm dịch:
Cõi bồ đề không nhiễm một hạt bụi trần,
Cửa bát nhã hội tụ vạn điều tốt đẹp.
Chùa đã được Mạc Thiên Tứ miêu tả trong bài xướng Tiêu tự thần chung:
Tàn tinh tiêu lạc hướng thiên phao,
Mậu dạ kình âm viễn tự xao.
Tịnh cảnh nhân duyên tỉnh thế giới,
Cô thanh thanh việt xuất giang giao.
Hốt kinh hạc lệ nhiễu phong thụ,
Hựu xúc ô đề ỷ nguyệt sao.
Đốn giác thiên gia y chẩm hậu,
Kê truyền hiểu tín diệc liêu liêu.
Bản dịch của Đông Hồ:
Tượng Phật nằm - Ảnh: Hoàng Chí Hùng
Lác đác trời tàn nhạt sánh sao,
Chuông chùa xa vẳng tiếng đưa vào.
Mơ màng cõi tục người tiên lẫn,
Đồng vọng bờ cây bến nước xao.
Hạc để tiếng vương cành gió thoảng,
Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao.
Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng,
Sớm giục canh gà tin khát khao.
< Dấu tích tường cổ còn lại.
Chùa Tam Bảo là một trong những thắng cảnh của xứ Hà Tiên, từng được ca ngợi qua bài vịnh Tiêu tự thần chung của Mạc Thiên Tích. Ngôi chùa ngày nay tuy không còn giữ được lối kiến trúc ban đầu, nhưng vẫn mang dáng vẻ thanh u, tĩnh mịch của chốn tu hành.
Du lịch, GO! - ảnh internet
Chùa Tam Bảo còn có tên gọi là chùa Tiêu, là một trong 10 cảnh đẹp từng được Mạc Thiên Tứ ca ngợi qua bài vịnh Tiêu Tự Thần Chung khá nổi tiếng. Chùa được triều đình nhà Nguyễn ban biển sắc phong nên còn được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.
Theo sách Mạc Thị Gia Phả, sau khi triều đình nhà Thanh được thành lập tại Trung Hoa, một vị quan trung thành với nhà Minh là Mạc Cửu đã rời bỏ quê hương trôi dạt xuống vùng Đông Nam Á.
< Cổng chùa.
Năm 1695, ông thần Phục vua Chân Lạp và xin được đến khai phá vùng Mang Khảm. Đến năm 1714, Mạc Cửu xin sát nhập Mang Khảm vào xứ Đàng Trong. Chúa Hiển tông Nguyễn Phúc Chu đồng ý phong cho Mạc Cửu chức Tổng binh, sau phong Cửu Lộc hầu. Vùng Mang Khảm sau đó được đổi thành trấn Hà Tiên.
Sau một thời gian gầy dựng Hà Tiên, thân mẫu của ông là Thái Thái phu nhân cũng được đưa đến đây. Năm 1730, để có nơi chốn cho mẹ tu hành trong những năm cuối đời, Khai trấn Cửu Lộc Hầu Mạc Cửu đã cho xây dựng chùa Tam Bảo sau khi Thái Thái phu nhân quy y với Hòa thượng Ấn Hạ thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 35.
Tu hành được một thời gian, Thái Thái phu nhân tọa hóa trước Phật Đài. Mạc Cửu cho đúc kim thân của mẹ để thờ, đúc một Đại hồng chung để cúng và nghe tiếng chuông mà tưởng niệm mẹ hiền. Năm 1735, Mạc Cửu qua đời, con ông là Mạc Thiên Tứ (hay Mạc Thiên Tích) thay cha làm Đô đốc Tổng binh. Chính ông đã ca ngợi cảnh đẹp của chùa Tam Bảo Hà Tiên qua bài thơ Tiêu tự thần chung trong Hà Tiên thập vịnh.
Đời trụ trì đầu tiên của chùa Tam Bảo là hoà thượng Ấn Hạ cũng là vị hoà thượng khai nguyên cho Phật giáo xứ Hà Tiên.
Đến nay, chùa Tam Bảo đã trải qua 19 đời trụ trì là những vị chân tăng như hoà thượng Hoà Quang, thiền sư Nhất Đới, thiền sư Trí Tàng, thiền sư Hoằng Ân, thiền sư Hải Huệ, thiền sư Giác Ngạn, thiền sư Như Đức, thiền sư Như Khả, thiền sư Phước Chơn, hoà thượng Thuần Hạnh, Yết ma Phước Thành, hoà thượng Phước Ân (1920 - 1946), hoà thượng Phước Quang, hoà thượng Quảng Đức, hoà thượng Vĩnh Đạt, hoà thượng Chánh Định, thượng tọa Thiện Giác (1960 - 1974) và từ năm 1974 đến nay là ni sư Thích Nữ Như Hải (thế danh Huỳnh Thị Phước).
Từ ngày thành lập đến nay, chùa Tam Bảo đã được trùng tu nhiều lần do ngôi chùa xưa đã hỏng, chỉ còn dấu vết ở các bức tường thành. Hai lần trùng tu được xem là lớn nhất là trong thời gian trụ trì của hoà thượng Phước Ân (1920 - 1946) và trong thời gian trụ trì của ni sư Như Hải từ 1974. Lần trùng tu lớn thứ 1 là vào năm 1930, hoà thượng Phước Ân đã cho xây dựng lại chùa Tam Bảo với dáng vẻ khang trang uy nghiêm như ngày nay và cho trồng một số cây sao đến nay đã trở thành cổ thụ.
< Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni trước sân.
Lần thứ 2, sau khi được cử về trụ trì chùa Tam Bảo, ni sư Như Hải đã bắt đầu cho kiến tạo và trùng tu một số công trình như An vị Đức Quán Thế Âm Bồ Tát lộ thiên cao 5 m, nặng 7 tấn (1974), Lợp lại mái ngói Chánh điện và Nhà Tổ (1979), An vị tôn tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn (1987), An vị Đức Bổn sư Thích Ca ngồi dưới cội Bồ đề (1983), xây dựng cổng Tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ và chỉnh trang cảnh quan xung quanh chùa (1992), an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa.
Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Vị trí cao nhất thờ tượng Di Đà Tam Tôn. Pho tượng đức Phật A Di Đà bằng đồng, cao 1,40m, do ông Mạc Cửu cúng, được tôn trí ở giữa, hai bên đặt tượng Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí.
Kế tiếp có tượng đức Phật Thích Ca thành đạo, đức Phật Thích Ca khuyến thiện, tượng Thích Ca đản sanh và tượng đức Phật nhập Niết bàn. Đối diện bàn thờ Phật, có bàn thờ tượng Bồ tát Phổ Hiền, Hộ Pháp, Bồ tát Địa Tạng và Tiêu Diện.

< Tháp mộ Thái Thái Bà Bà ở sau chùa.
Ở sân trước chùa còn có phòng phát hành kinh sách, tranh tượng Phật giáo đa dạng, phong phú. Chung quanh chùa còn rải rác nhiều bức vách xây hồ tam hạp, cũ kỹ nhưng chắc chắn. Tính ra, bức tường cổ này đã tồn tại gần 300 năm ròng.
Trước cổng chùa có đôi câu đối:
Nhất trần bất nhiễm Bồ Đề địa.
Vạn thiện đồng quy Bát Nhã môn.
Tạm dịch:
Cõi bồ đề không nhiễm một hạt bụi trần,
Cửa bát nhã hội tụ vạn điều tốt đẹp.
Chùa đã được Mạc Thiên Tứ miêu tả trong bài xướng Tiêu tự thần chung:
Tàn tinh tiêu lạc hướng thiên phao,
Mậu dạ kình âm viễn tự xao.
Tịnh cảnh nhân duyên tỉnh thế giới,
Cô thanh thanh việt xuất giang giao.
Hốt kinh hạc lệ nhiễu phong thụ,
Hựu xúc ô đề ỷ nguyệt sao.
Đốn giác thiên gia y chẩm hậu,
Kê truyền hiểu tín diệc liêu liêu.
Bản dịch của Đông Hồ:Tượng Phật nằm - Ảnh: Hoàng Chí Hùng
Lác đác trời tàn nhạt sánh sao,
Chuông chùa xa vẳng tiếng đưa vào.
Mơ màng cõi tục người tiên lẫn,
Đồng vọng bờ cây bến nước xao.
Hạc để tiếng vương cành gió thoảng,
Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao.
Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng,
Sớm giục canh gà tin khát khao.
< Dấu tích tường cổ còn lại.
Chùa Tam Bảo là một trong những thắng cảnh của xứ Hà Tiên, từng được ca ngợi qua bài vịnh Tiêu tự thần chung của Mạc Thiên Tích. Ngôi chùa ngày nay tuy không còn giữ được lối kiến trúc ban đầu, nhưng vẫn mang dáng vẻ thanh u, tĩnh mịch của chốn tu hành.
Du lịch, GO! - ảnh internet
Tổ đình Linh Quang - Đà Lạt
Nằm tọa lạc tại số 133 đường Hai Bà Trưng phường 6 TP Đà Lạt, Tổ đình Linh Quang được xem là ngôi chùa đầu tiên đặt nền mống khơi nguồn đạo pháp tại phố núi Cao Nguyên, Lâm Đồng.
< Tổ Đình Linh Quang: Ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Lâm Đồng.
Ngôi chùa do Hoà thượng Thích Nhân Thứ tạo lập vào năm 1931, sau đó được các hoà thượng trụ trì kế tiếp trùng tu, đặc biệt là vào năm 1958 và năm 1972 dưới thời Hòa thượng Thích Minh Cảnh trụ trì [2]. Ngôi chùa đã được vua Bảo Đại ban sắc tứ vào năm 1938.
Chùa có lối kiến trúc cổ, mái chồng cong, trên mái kép uốn cong tại bốn góc của nóc chùa được trạm trổ hình long, lân, quy, phụng cùng các con giao uốn lượn gắn ghép nhiều mảnh sành sứ đủ màu sắc.
Tiền diện chùa quay hướng về phía Đông Bắc, chánh điện được xây dựng theo hình chữ đinh dài 20m, rộng 15m, gồm 3 gian nhà kết cấu liên thông nhau. Ngôi tiền sảnh có lối kiến trúc 3 gian, hai chái có mái kép, trên hai đầu đỉnh nóc có gắn hai con Rồng theo thế hồi Long, cùng chầu vào một mặt hổ phù, phía trên mặt hổ phù là bánh xe chuyển Pháp Luân.
< Đại hùng bảo điện.
Trên các đầu đao của mái trên là các cặp lưỡng Long, lưỡng Phụng chầu vào, ở hai đầu đao mái dưới là một cặp lưỡng Long vươn ra, khoảng giữa của hai mái là các bức trang trí hồi Long đối xứng qua bảng hiệu bằng chữ Hán “Linh Quang Tự”, tiền điện chùa có 4 trụ đắp rồng và sát hai trụ cột ngoài cùng là hai mãnh tường hẹp đắp nổi phong cảnh vườn Lộc Uyển.
Trong chánh điện tôn trí thờ tượng Đức Bổn Sư, ngự trên tòa sen, hai bên thờ đức Hộ Pháp và Tiêu Diện, sau chánh điện là hậu tổ, thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma, chư vị Hòa thượng quá cố, hai bên là bàn thờ chư vị nam nữ quá cố chư Hương Linh, sau tổ đường là nhà tăng, tàng kinh các.
Trong khuôn viên chùa ngoài ba bảo tháp còn có một tượng đài Quán Thế Âm lộ thiên thị hiện trên thân Rồng dài 100m, đường kính 2m, vườn Lâm Tỳ Ni nơi Đức Phật đản sanh. Các công trình này được thực hiện từ năm Canh Thìn (2000).
Tổ đình Sắc tứ Linh Quang tính đến nay đã đã tròn 91 năm, đã trải qua nhiều thế hệ trú trì là những bậc cao tăng đức độ. Cổ tự Linh Quang ngày nay còn được biết đến như là một địa danh tham quan du lịch tâm linh nổi tiếng, luôn hiện diện trong hành trình của những khách hành hương khi đặt chân đến với thành phố Hoa Đà Lạt.
Ngoài ra, đây còn là một địa chỉ ấm áp tình người của những mãnh đời bất hạnh, luôn đi đầu trong các công tác từ thiện xã hội, ngõ hầu làm lợi lạc cho mọi loài chúng sanh, báo Phật ân đức, kế vãng khai lai, lưu truyền hậu thế.
Cổ tự Linh Quang ngày nay còn được biết đến như là một địa danh tham quan du lịch tâm linh nổi tiếng, luôn hiện diện trong hành trình của những khách hành hương khi đặt chân đến với thành phố Hoa Đà Lạt. Ngoài ra, đây còn là một địa chỉ ấm áp tình người của những mãnh đời bất hạnh.
Du lịch, GO!
< Tổ Đình Linh Quang: Ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Lâm Đồng.
Ngôi chùa do Hoà thượng Thích Nhân Thứ tạo lập vào năm 1931, sau đó được các hoà thượng trụ trì kế tiếp trùng tu, đặc biệt là vào năm 1958 và năm 1972 dưới thời Hòa thượng Thích Minh Cảnh trụ trì [2]. Ngôi chùa đã được vua Bảo Đại ban sắc tứ vào năm 1938.
Chùa có lối kiến trúc cổ, mái chồng cong, trên mái kép uốn cong tại bốn góc của nóc chùa được trạm trổ hình long, lân, quy, phụng cùng các con giao uốn lượn gắn ghép nhiều mảnh sành sứ đủ màu sắc.
Tiền diện chùa quay hướng về phía Đông Bắc, chánh điện được xây dựng theo hình chữ đinh dài 20m, rộng 15m, gồm 3 gian nhà kết cấu liên thông nhau. Ngôi tiền sảnh có lối kiến trúc 3 gian, hai chái có mái kép, trên hai đầu đỉnh nóc có gắn hai con Rồng theo thế hồi Long, cùng chầu vào một mặt hổ phù, phía trên mặt hổ phù là bánh xe chuyển Pháp Luân.< Đại hùng bảo điện.
Trên các đầu đao của mái trên là các cặp lưỡng Long, lưỡng Phụng chầu vào, ở hai đầu đao mái dưới là một cặp lưỡng Long vươn ra, khoảng giữa của hai mái là các bức trang trí hồi Long đối xứng qua bảng hiệu bằng chữ Hán “Linh Quang Tự”, tiền điện chùa có 4 trụ đắp rồng và sát hai trụ cột ngoài cùng là hai mãnh tường hẹp đắp nổi phong cảnh vườn Lộc Uyển.
Trong chánh điện tôn trí thờ tượng Đức Bổn Sư, ngự trên tòa sen, hai bên thờ đức Hộ Pháp và Tiêu Diện, sau chánh điện là hậu tổ, thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma, chư vị Hòa thượng quá cố, hai bên là bàn thờ chư vị nam nữ quá cố chư Hương Linh, sau tổ đường là nhà tăng, tàng kinh các.
Trong khuôn viên chùa ngoài ba bảo tháp còn có một tượng đài Quán Thế Âm lộ thiên thị hiện trên thân Rồng dài 100m, đường kính 2m, vườn Lâm Tỳ Ni nơi Đức Phật đản sanh. Các công trình này được thực hiện từ năm Canh Thìn (2000).
Tổ đình Sắc tứ Linh Quang tính đến nay đã đã tròn 91 năm, đã trải qua nhiều thế hệ trú trì là những bậc cao tăng đức độ. Cổ tự Linh Quang ngày nay còn được biết đến như là một địa danh tham quan du lịch tâm linh nổi tiếng, luôn hiện diện trong hành trình của những khách hành hương khi đặt chân đến với thành phố Hoa Đà Lạt.
Ngoài ra, đây còn là một địa chỉ ấm áp tình người của những mãnh đời bất hạnh, luôn đi đầu trong các công tác từ thiện xã hội, ngõ hầu làm lợi lạc cho mọi loài chúng sanh, báo Phật ân đức, kế vãng khai lai, lưu truyền hậu thế.
Cổ tự Linh Quang ngày nay còn được biết đến như là một địa danh tham quan du lịch tâm linh nổi tiếng, luôn hiện diện trong hành trình của những khách hành hương khi đặt chân đến với thành phố Hoa Đà Lạt. Ngoài ra, đây còn là một địa chỉ ấm áp tình người của những mãnh đời bất hạnh.
Du lịch, GO!
Khu tưởng niệm các vua Hùng - Q9
Khu tưởng niệm các vua Hùng là một công trình thuộc khu Cổ Đại của dự án Công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc. Khu tưởng niệm tọa lạc trên hai phường Long Bình, quận 9, TP. HCM và xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, cách trung tâm TP. HCM hơn 20km. Từ khu du lịch Suối Tiên, các bạn có thể bắt xe buýt số 76 để đến thẳng Khu tưởng niệm các vua Hùng.
Dự án khu tưởng niệm các vua Hùng được khởi công xây dựng vào ngày 21/4/2002 và khánh thành đúng vào ngày giỗ Tổ Hùng Vương (mồng 10 tháng 3 năm Kỷ Sửu), tức ngày 4/4/2009. Từ đó đến nay, nơi đây đã trở thành địa điểm tổ chức lễ giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm với quy mô lớn nhất khu vực phía Nam và là địa điểm tham quan, chiêm bái của những người con phương Nam hướng về đất Tổ.
< Ảnh đầu là toàn cảnh cổng chính, còn đây là hàng cọ đến từ Phú Thọ ở hai bên đường vào cổng chính.
Khu tưởng niệm các vua Hùng được xây dựng trên một ngọn đồi cao 21m so với mặt nước biển, có diện tích 59.306m², do kiến trúc sư Nguyễn Trường Lưu thiết kế.
Khu tưởng niệm bao gồm: Quảng Trường, Nghi Môn, Đường Tre, Nhà Bia, đền Tưởng Niệm (gồm sân Lễ, sân Vọng, sân Hội) và phòng trưng bày.
< Cổng chính, hai bên có tượng hộ vệ.
Trước tiên, khách vào cổng ngoài rồi theo bảng chỉ dẫn chạy thẳng vào trong, nơi có nhà điều hành và bãi đậu xe.
Nhà điều hành có diện tích 472m² là nơi tiếp đón khách tham quan, tại đây có phòng trưng bày truyền thống. Khách vào Khu tưởng niệm các vua Hùng không phải mua vé ngoại trừ vé gởi xe.
< Đường tre.
Quảng trường khu tưởng niệm các Vua Hùng là một khoảng sân trống hình vuông với diện tích 4000m², nền sân có hình mặt trời với những tia sáng tỏa ra xung quanh, theo mô phỏng mặt trống đồng Đông Sơn. Nền quảng trường gợi nhớ về nhận thức vũ trụ của người xưa cho rằng “trời tròn đất vuông”.
Xung quanh quảng trường là các hàng cây cọ cao trên 3m xòe tán tròn râm mát, một giống cây đặc sản từ vùng “rừng cọ đồi chè” của tỉnh Phú Thọ mang vào đã thích nghi và tươi tốt với vùng đồi gò phía Đông thành phố.
Quảng trường còn toát lên vẻ trang nghiêm, hoành tráng bởi hai hàng cột đá xanh (cạnh mỗi cột đá 1m). Cột đá cao khoảng 6m, 18 cột đá này tượng trưng cho các đời vua Hùng trong lịch sử cổ đại Việt Nam.
< Nhà bia.
Từ quảng trường qua 5 bậc đá là đến Nghi môn (hay còn gọi là cổng vào đền). Nghi môn cao khoảng 8m là công trình kiến trúc được tạo dựng bởi các khối đá hình chữ nhật tạo nên các cột vững chắc đỡ các mái và tạo khoảng không ra vào.
Dưới mái chính giữa nghi môn gắn phiến đá hình chữ nhật, có hoa văn bao quanh, chính giữa khắc chìm dòng chữ: 'Đền tưởng niệm các vua Hùng'. Bên tả và hữu nghi môn có 2 tượng võ sĩ, một người cầm giáo dài, một người mang rìu chiến trong tư thế oai phong canh giữ nghi môn.
< Qua khỏi nhà bia...
Đường tre có chiều dài 360m, được xây dựng đào sâu theo triền dốc tự nhiên với độ sâu trung bình 1,5m; rộng 10m. Mặt đường tre được lót bằng đá. Hai bên vách đường trồng hai hàng tre ngà từ cổng vào cho đến đền chính. Tất cả những nơi cao thấp đều có lối đi xe lăn dành cho người khuyết tật.
< ... là đến khu đền thờ các Vua Hùng.
Nhà bia với diện tích xây dựng trên 44m², mái lợp ngói mũi hài - một loại ngói được mang từ tỉnh Thanh Hóa vào.
Khung nhà bia được tạo dựng bởi 4 cột gỗ căm xe loại lớn và được liên kết với các xà (cây xiên) tạo thành thế tứ trụ vững chắc, phỏng theo lối kiến trúc kiến trúc đình, đền truyền thống Nam bộ. Không gian nhà bia được nới rộng ra 4 hướng bởi hệ thống kèo nối với 12 cây cột gỗ nhỏ hơn ở hàng nhì.
< Trực chỉ theo những bậc thang đá để đến đền.
Giữa nhà bia có bia đá hình chữ nhật trên có khắc nội dung tóm tắt về hào khí lịch sử Việt Nam.
Cùng với hệ thống bậc thang, các chiếu nghỉ, các phù điêu vách tường song song với đường tre ngà uốn lượn dài hơn 4000m theo triền dốc tự nhiên, công trình nhà bia là điểm nhấn trên đường hành hương về với cội nguồn.
Qua khỏi nhà bia, cũng là lúc đã lên 107 bậc đá để vào đền. Đền vọng tuởng niệm các vua Hùng tọa lạc trên đồi cao, nhìn tổng thể mang dáng hình chim lạc cách điệu đang vươn cánh bay về phương Bắc. Để thực hiện các nghi thức lễ hội hướng về Quốc Tổ, thiết kế ngôi đền có sân lễ, sân vọng và sân hội.
Sân lễ gồm toàn bộ không gian ngôi nhà hình dáng chiếc trống đồng với cửa lớn vào ở hướng Nam. Vách tường được xây cao và thể hiện như thân tang trống, vách tường bên trái và bên phải đều có các bức phù điêu gốm màu, phản ánh về cuộc sống sinh hoạt và đấu tranh sinh tồn của con người thời Hùng Vương.
Phần trang trọng, linh thiêng nhất là nơi thờ phụng với 7 gian thờ hình vòng cung còn lại của thân trống, trong đó gian thờ Quốc Tổ Hùng Vương ở trung tâm và được đặt ở vị trí chính hướng Bắc với 3 bậc:
Bậc thứ nhất thờ Quốc Tổ Hùng Vương, bậc thứ 2 thờ Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ, bậc trên cùng là các bức bình phong bằng đồng với hoa văn, họa tiết, hình ảnh về văn hóa Đông Sơn. Bên trái Quốc Tổ Hùng Vương thờ Lạc Tướng, bên phải thờ Lạc Hầu; các gian còn lại thờ các vị thần là nhân thần và nhiên thần như: Tản viên Sơn thánh, Phù Đổng Thiên Vương, An Dương Vương, Hai Bà Trưng; ở 2 gian còn lại thờ Lạc Dân (bá tánh thời Hùng Vương).
< Sân vọng với 54 cột đá tượng trưng cho cộng đồng 54 dân tộc Việt.
Sân vọng (lầu thượng) hình vuông cao hơn đồi 11m, góc phải và trái của sân vọng có 54 cột đá biểu trưng cho các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Sau khi thực hiện nghi lễ, khách hành hương sẽ lên sân vọng thắp nhang và tâm nguyện hướng về đất tổ ở phương Bắc, nơi cội nguồn của dân tộc.
Sân hội có hội trường, sân đỉnh đồi rộng rãi, cảnh quan thoáng mát cùng các dịch vụ phục vụ cho hội thảo, vui chơi giải trí sau phần lễ.
< Đá Trường Sa.
Qua khỏi nhà bia, cũng là lúc đã lên 107 bậc đá để vào đền. Đền vọng tuởng niệm các vua Hùng tọa lạc trên đồi cao, nhìn tổng thể mang dáng hình chim lạc cách điệu đang vươn cánh bay về phương Bắc. Để thực hiện các nghi thức lễ hội hướng về Quốc Tổ, thiết kế ngôi đền có sân lễ, sân vọng và sân hội.
Công trình Đền tưởng niệm các vua Hùng là điểm tựa giáo dục lịch sử truyền thống dân tộc cho nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ, theo chủ trương xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Nơi đây đã trở thành địa điểm tổ chức lễ giỗ Tổ Hùng Vương quy mô lớn nhất khu vực phía Nam và là địa điểm tham quan, chiêm bái của những người con phương Nam hướng về đất Tổ.
< Học sinh tham quan.
Trong tương lai, cùng với các hạng mục của Khu I (khu cổ đại) trong đó có khu tưởng niệm các Vua Hùng, đồ án thuộc 3 khu vực còn lại của Công viên Lịch sử-Văn hóa dân tộc thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục được triển khai thực hiện. Trong đó có một số dự án lớn như: Dự án các sự kiện lịch sử thời Trung đại (Khu II); Tái hiện và tổ chức sự kiện lịch sử Cận đại-Hiện đại (Khu III); Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, làng hoa, làng văn hóa các dân tộc, khu sinh thái; khu tái hiện đường Trường Sơn (Khu IV). Công viên Lịch sử-Văn hóa dân tộc tại thành phố khi hoàn thành toàn bộ sẽ là công trình văn hóa mang dấu ấn lịch sử của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong thế kỷ 21.
Du lịch, GO!, ảnh từ Caravanviet và nhiều nguồn khác.
Dự án khu tưởng niệm các vua Hùng được khởi công xây dựng vào ngày 21/4/2002 và khánh thành đúng vào ngày giỗ Tổ Hùng Vương (mồng 10 tháng 3 năm Kỷ Sửu), tức ngày 4/4/2009. Từ đó đến nay, nơi đây đã trở thành địa điểm tổ chức lễ giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm với quy mô lớn nhất khu vực phía Nam và là địa điểm tham quan, chiêm bái của những người con phương Nam hướng về đất Tổ.
< Ảnh đầu là toàn cảnh cổng chính, còn đây là hàng cọ đến từ Phú Thọ ở hai bên đường vào cổng chính.
Khu tưởng niệm các vua Hùng được xây dựng trên một ngọn đồi cao 21m so với mặt nước biển, có diện tích 59.306m², do kiến trúc sư Nguyễn Trường Lưu thiết kế.
Khu tưởng niệm bao gồm: Quảng Trường, Nghi Môn, Đường Tre, Nhà Bia, đền Tưởng Niệm (gồm sân Lễ, sân Vọng, sân Hội) và phòng trưng bày.
< Cổng chính, hai bên có tượng hộ vệ.
Trước tiên, khách vào cổng ngoài rồi theo bảng chỉ dẫn chạy thẳng vào trong, nơi có nhà điều hành và bãi đậu xe.
Nhà điều hành có diện tích 472m² là nơi tiếp đón khách tham quan, tại đây có phòng trưng bày truyền thống. Khách vào Khu tưởng niệm các vua Hùng không phải mua vé ngoại trừ vé gởi xe.
< Đường tre.
Quảng trường khu tưởng niệm các Vua Hùng là một khoảng sân trống hình vuông với diện tích 4000m², nền sân có hình mặt trời với những tia sáng tỏa ra xung quanh, theo mô phỏng mặt trống đồng Đông Sơn. Nền quảng trường gợi nhớ về nhận thức vũ trụ của người xưa cho rằng “trời tròn đất vuông”.
Xung quanh quảng trường là các hàng cây cọ cao trên 3m xòe tán tròn râm mát, một giống cây đặc sản từ vùng “rừng cọ đồi chè” của tỉnh Phú Thọ mang vào đã thích nghi và tươi tốt với vùng đồi gò phía Đông thành phố.
Quảng trường còn toát lên vẻ trang nghiêm, hoành tráng bởi hai hàng cột đá xanh (cạnh mỗi cột đá 1m). Cột đá cao khoảng 6m, 18 cột đá này tượng trưng cho các đời vua Hùng trong lịch sử cổ đại Việt Nam.
< Nhà bia.
Từ quảng trường qua 5 bậc đá là đến Nghi môn (hay còn gọi là cổng vào đền). Nghi môn cao khoảng 8m là công trình kiến trúc được tạo dựng bởi các khối đá hình chữ nhật tạo nên các cột vững chắc đỡ các mái và tạo khoảng không ra vào.
Dưới mái chính giữa nghi môn gắn phiến đá hình chữ nhật, có hoa văn bao quanh, chính giữa khắc chìm dòng chữ: 'Đền tưởng niệm các vua Hùng'. Bên tả và hữu nghi môn có 2 tượng võ sĩ, một người cầm giáo dài, một người mang rìu chiến trong tư thế oai phong canh giữ nghi môn.< Qua khỏi nhà bia...
Đường tre có chiều dài 360m, được xây dựng đào sâu theo triền dốc tự nhiên với độ sâu trung bình 1,5m; rộng 10m. Mặt đường tre được lót bằng đá. Hai bên vách đường trồng hai hàng tre ngà từ cổng vào cho đến đền chính. Tất cả những nơi cao thấp đều có lối đi xe lăn dành cho người khuyết tật.
< ... là đến khu đền thờ các Vua Hùng.
Nhà bia với diện tích xây dựng trên 44m², mái lợp ngói mũi hài - một loại ngói được mang từ tỉnh Thanh Hóa vào.
Khung nhà bia được tạo dựng bởi 4 cột gỗ căm xe loại lớn và được liên kết với các xà (cây xiên) tạo thành thế tứ trụ vững chắc, phỏng theo lối kiến trúc kiến trúc đình, đền truyền thống Nam bộ. Không gian nhà bia được nới rộng ra 4 hướng bởi hệ thống kèo nối với 12 cây cột gỗ nhỏ hơn ở hàng nhì.
< Trực chỉ theo những bậc thang đá để đến đền.
Giữa nhà bia có bia đá hình chữ nhật trên có khắc nội dung tóm tắt về hào khí lịch sử Việt Nam.
Cùng với hệ thống bậc thang, các chiếu nghỉ, các phù điêu vách tường song song với đường tre ngà uốn lượn dài hơn 4000m theo triền dốc tự nhiên, công trình nhà bia là điểm nhấn trên đường hành hương về với cội nguồn.
Qua khỏi nhà bia, cũng là lúc đã lên 107 bậc đá để vào đền. Đền vọng tuởng niệm các vua Hùng tọa lạc trên đồi cao, nhìn tổng thể mang dáng hình chim lạc cách điệu đang vươn cánh bay về phương Bắc. Để thực hiện các nghi thức lễ hội hướng về Quốc Tổ, thiết kế ngôi đền có sân lễ, sân vọng và sân hội.
Sân lễ gồm toàn bộ không gian ngôi nhà hình dáng chiếc trống đồng với cửa lớn vào ở hướng Nam. Vách tường được xây cao và thể hiện như thân tang trống, vách tường bên trái và bên phải đều có các bức phù điêu gốm màu, phản ánh về cuộc sống sinh hoạt và đấu tranh sinh tồn của con người thời Hùng Vương.Phần trang trọng, linh thiêng nhất là nơi thờ phụng với 7 gian thờ hình vòng cung còn lại của thân trống, trong đó gian thờ Quốc Tổ Hùng Vương ở trung tâm và được đặt ở vị trí chính hướng Bắc với 3 bậc:
Bậc thứ nhất thờ Quốc Tổ Hùng Vương, bậc thứ 2 thờ Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ, bậc trên cùng là các bức bình phong bằng đồng với hoa văn, họa tiết, hình ảnh về văn hóa Đông Sơn. Bên trái Quốc Tổ Hùng Vương thờ Lạc Tướng, bên phải thờ Lạc Hầu; các gian còn lại thờ các vị thần là nhân thần và nhiên thần như: Tản viên Sơn thánh, Phù Đổng Thiên Vương, An Dương Vương, Hai Bà Trưng; ở 2 gian còn lại thờ Lạc Dân (bá tánh thời Hùng Vương).
< Sân vọng với 54 cột đá tượng trưng cho cộng đồng 54 dân tộc Việt.
Sân vọng (lầu thượng) hình vuông cao hơn đồi 11m, góc phải và trái của sân vọng có 54 cột đá biểu trưng cho các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Sau khi thực hiện nghi lễ, khách hành hương sẽ lên sân vọng thắp nhang và tâm nguyện hướng về đất tổ ở phương Bắc, nơi cội nguồn của dân tộc.
Sân hội có hội trường, sân đỉnh đồi rộng rãi, cảnh quan thoáng mát cùng các dịch vụ phục vụ cho hội thảo, vui chơi giải trí sau phần lễ.
< Đá Trường Sa.
Qua khỏi nhà bia, cũng là lúc đã lên 107 bậc đá để vào đền. Đền vọng tuởng niệm các vua Hùng tọa lạc trên đồi cao, nhìn tổng thể mang dáng hình chim lạc cách điệu đang vươn cánh bay về phương Bắc. Để thực hiện các nghi thức lễ hội hướng về Quốc Tổ, thiết kế ngôi đền có sân lễ, sân vọng và sân hội.
Công trình Đền tưởng niệm các vua Hùng là điểm tựa giáo dục lịch sử truyền thống dân tộc cho nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ, theo chủ trương xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Nơi đây đã trở thành địa điểm tổ chức lễ giỗ Tổ Hùng Vương quy mô lớn nhất khu vực phía Nam và là địa điểm tham quan, chiêm bái của những người con phương Nam hướng về đất Tổ.
< Học sinh tham quan.
Trong tương lai, cùng với các hạng mục của Khu I (khu cổ đại) trong đó có khu tưởng niệm các Vua Hùng, đồ án thuộc 3 khu vực còn lại của Công viên Lịch sử-Văn hóa dân tộc thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục được triển khai thực hiện. Trong đó có một số dự án lớn như: Dự án các sự kiện lịch sử thời Trung đại (Khu II); Tái hiện và tổ chức sự kiện lịch sử Cận đại-Hiện đại (Khu III); Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, làng hoa, làng văn hóa các dân tộc, khu sinh thái; khu tái hiện đường Trường Sơn (Khu IV). Công viên Lịch sử-Văn hóa dân tộc tại thành phố khi hoàn thành toàn bộ sẽ là công trình văn hóa mang dấu ấn lịch sử của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong thế kỷ 21.
Du lịch, GO!, ảnh từ Caravanviet và nhiều nguồn khác.
Về với lễ hội Đền Cờn
Nhân dân xứ Nghệ xưa vẫn lưu truyền câu 'Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng' để nói về những ngôi đền thiêng ở xứ Nghệ.
Trong số đó, đền Cờn được xếp ở vị trí số một bởi vẻ đẹp và sự linh thiêng - cái đẹp của một công trình kiến trúc cổ tọa lạc ở địa thế sơn thủy hữu tình, hướng mặt về dòng sông Mai Giang, núi Voi, núi Xước, sau lưng là biển xanh, cát trắng và linh thiêng bởi những truyền thuyết gắn với các vị thần được thờ ở Đền - Tứ vị Thánh nương.
Đền Cờn ở xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, cách thủ đô Hà Nội hơn 200km về phía nam, cách TP.Vinh 75km về phía Bắc theo quốc lộ 1A. Di tích đền Cờn gồm đền Cờn trong và đền Cờn ngoài.
Đền Cờn được vua Trần Anh Tông ban sắc chỉ xây dựng vào năm 1312 và được vua Lê Thánh Tông cho tu sửa vào năm 1471. Trong số hơn 30 địa điểm thờ tự Tứ vị thánh nương ở vùng ven biển Nghệ An, đền Cờn ở làng Phương Cần, xã Quỳnh Phương được xem là nơi tiêu biểu nhất, nơi phát tích của Đức thánh Tứ vị.
Đền Cờn trong là đền chính nằm ngay cạnh dòng sông Mai Giang. Qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, đến nay đền cơ bản vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ thuộc niên đại cuối triều Lê, đầu triều Nguyễn.
Ở tòa Thượng điện của đền có khám thờ đặt tượng Thánh mẫu, tức bà Thái hậu Dương Nguyệt Quả, mẹ vua Đế Bính. Ngoài khám thờ có đặt 3 pho tượng nhỏ hơn ngang hàng nhau, trong đó có 2 tượng công chúa Triệu Nguyệt Khiêu và Triệu Nguyệt Hương: con gái thái hậu Dương Nguyệt Quả và tượng còn lại ở giữa là Quách Thị Hoàng hậu, vợ vua Đế Bính.
Đền Cờn ngoài cách đền Cờn trong khoảng 1km, tọa lạc trên dãy núi Hùng Vương. Đền thờ các vị thần như: Đế Bính, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu... Đền được đặt trên núi ngay sát cửa biển, nên khách du lịch đến đấy ngoài sự cổ kính, du khách còn được thư giãn với phong cảnh rất phóng khoáng và thơ mộng.
Lễ hội đền Cờn cũng là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo, phản ánh rõ nhất về tín ngưỡng dân gian miền biển. Lễ hội đền Cờn là một trong những lễ hội cổ nhất ở xứ Nghệ, đã từng được khởi xướng từ cách đây khoảng 800 năm.
Lễ hội Đền Cờn được tổ chức từ ngày 20-21/01 (Âm lịch) hàng năm cuốn hút đông đảo du khách thập phương về dự. Ngoài các lễ tế trang trọng và các trò chơi dân gian mang đậm màu sắc văn hóa biển như đua thuyền, đấu vật... thì nét đặc sắc nhất của lễ hội đền Cờn là tục “chạy Ói”. Chạy Ói diễn lại việc tranh chấp cây gỗ thần theo truyền thuyết liên quan đến Tứ Vị Thánh nương.
Tục chạy Ói trong lễ hội đền Cờn phản ánh niềm tin của người dân về sự linh thiêng của cây gỗ thần. Xưa kia, tục chạy Ói được tổ chức dưới hình thức một trò chơi dân gian mang tinh thần thượng võ. Ngay nay, tục chạy Ói vẫn có một sức hấp dẫn rất lớn và là một điểm nhấn của lễ hội đền Cờn.
Với người dân biển Quỳnh Lưu, lễ hội đền Cờn là nơi thể hiện tín ngưỡng tâm linh, phong tục của người dân vùng biển gắn với nghề đánh bắt cá, buôn thuyền mành. Riêng với đông đảo nhân dân xứ Nghệ và du khách thập phương, đầu năm được về với đền Cờn và lễ hội đền Cờn là về với chốn linh thiêng, được thực hành những nghi lễ tâm linh thực sự có ý nghĩa, được hòa mình vào một thế giới tinh thần huyền bí để tưởng nhớ Đức thánh Tứ vị và cầu mong các vị thần thánh phù hộ cho một năm bình an, nhiều phúc lộc.
Theo Travel Zizi
Du lịch, GO!
Trong số đó, đền Cờn được xếp ở vị trí số một bởi vẻ đẹp và sự linh thiêng - cái đẹp của một công trình kiến trúc cổ tọa lạc ở địa thế sơn thủy hữu tình, hướng mặt về dòng sông Mai Giang, núi Voi, núi Xước, sau lưng là biển xanh, cát trắng và linh thiêng bởi những truyền thuyết gắn với các vị thần được thờ ở Đền - Tứ vị Thánh nương.
Đền Cờn ở xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, cách thủ đô Hà Nội hơn 200km về phía nam, cách TP.Vinh 75km về phía Bắc theo quốc lộ 1A. Di tích đền Cờn gồm đền Cờn trong và đền Cờn ngoài.
Đền Cờn được vua Trần Anh Tông ban sắc chỉ xây dựng vào năm 1312 và được vua Lê Thánh Tông cho tu sửa vào năm 1471. Trong số hơn 30 địa điểm thờ tự Tứ vị thánh nương ở vùng ven biển Nghệ An, đền Cờn ở làng Phương Cần, xã Quỳnh Phương được xem là nơi tiêu biểu nhất, nơi phát tích của Đức thánh Tứ vị.
Đền Cờn trong là đền chính nằm ngay cạnh dòng sông Mai Giang. Qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, đến nay đền cơ bản vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ thuộc niên đại cuối triều Lê, đầu triều Nguyễn.
Ở tòa Thượng điện của đền có khám thờ đặt tượng Thánh mẫu, tức bà Thái hậu Dương Nguyệt Quả, mẹ vua Đế Bính. Ngoài khám thờ có đặt 3 pho tượng nhỏ hơn ngang hàng nhau, trong đó có 2 tượng công chúa Triệu Nguyệt Khiêu và Triệu Nguyệt Hương: con gái thái hậu Dương Nguyệt Quả và tượng còn lại ở giữa là Quách Thị Hoàng hậu, vợ vua Đế Bính.
Đền Cờn ngoài cách đền Cờn trong khoảng 1km, tọa lạc trên dãy núi Hùng Vương. Đền thờ các vị thần như: Đế Bính, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu... Đền được đặt trên núi ngay sát cửa biển, nên khách du lịch đến đấy ngoài sự cổ kính, du khách còn được thư giãn với phong cảnh rất phóng khoáng và thơ mộng.
Lễ hội đền Cờn cũng là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo, phản ánh rõ nhất về tín ngưỡng dân gian miền biển. Lễ hội đền Cờn là một trong những lễ hội cổ nhất ở xứ Nghệ, đã từng được khởi xướng từ cách đây khoảng 800 năm.
Lễ hội Đền Cờn được tổ chức từ ngày 20-21/01 (Âm lịch) hàng năm cuốn hút đông đảo du khách thập phương về dự. Ngoài các lễ tế trang trọng và các trò chơi dân gian mang đậm màu sắc văn hóa biển như đua thuyền, đấu vật... thì nét đặc sắc nhất của lễ hội đền Cờn là tục “chạy Ói”. Chạy Ói diễn lại việc tranh chấp cây gỗ thần theo truyền thuyết liên quan đến Tứ Vị Thánh nương.
Tục chạy Ói trong lễ hội đền Cờn phản ánh niềm tin của người dân về sự linh thiêng của cây gỗ thần. Xưa kia, tục chạy Ói được tổ chức dưới hình thức một trò chơi dân gian mang tinh thần thượng võ. Ngay nay, tục chạy Ói vẫn có một sức hấp dẫn rất lớn và là một điểm nhấn của lễ hội đền Cờn.
Với người dân biển Quỳnh Lưu, lễ hội đền Cờn là nơi thể hiện tín ngưỡng tâm linh, phong tục của người dân vùng biển gắn với nghề đánh bắt cá, buôn thuyền mành. Riêng với đông đảo nhân dân xứ Nghệ và du khách thập phương, đầu năm được về với đền Cờn và lễ hội đền Cờn là về với chốn linh thiêng, được thực hành những nghi lễ tâm linh thực sự có ý nghĩa, được hòa mình vào một thế giới tinh thần huyền bí để tưởng nhớ Đức thánh Tứ vị và cầu mong các vị thần thánh phù hộ cho một năm bình an, nhiều phúc lộc.
Theo Travel Zizi
Du lịch, GO!
Popular Posts
-
H à Giang có rất nhiều chợ: chợ Phố Cáo, chợ Phó Bảng, chợ Sủng Là, chợ Lũng Phìn, chợ Ma Lé, chợ Đồng Văn, chợ Mèo Vạc, chợ Sà Phìn… Đa phầ...
-
C hùa Vạn Đức tọa lạc số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh). Chùa do HT.Thích Trí Tịnh, đời thứ 41 dòng t...
-
(Metinfo) - A i cũng biết khổ qua nguyên trái hầm thịt nạc bằm hoặc cá thác lác quết nước muối, khổ qua xắt lát xào thịt bò , khổ qua xắt lá...
-
(QN online) - C ùng với za’ră (thịt thọc ống), aví cuốt (bánh sừng trâu), ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc n...
-
G iữa nhịp sống hối hả và ồn ào của TP. Hồ Chí Minh, nếu bạn bước chân vào nơi rợp bóng cây, lộng gió và nghe tiếng chim hót sẽ là một niềm ...
-
(iHay) - T hị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên nằm giữa 2 thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và Tuy Hòa (Phú Yên). Có lẽ do nằm trong “vùng trũng” g...
-
(CTTĐTTTH) - A n Định Cung không chỉ nổi tiếng là một công trình đẹp của cung đình Huế mà nó còn là nơi chứng kiến nhiều nỗi thăng trầm của ...
-
(Daidoanket) - N gược dòng Long Đại, con thuyền đưa chúng tôi đi ngang qua các thôn, bản với những tên gọi dân gian như Ổ Gà, Lùi, Cập, Chuố...
-
A n Giang là tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam với một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên. Đây là tỉnh có dân số đông n...
-
K hu tưởng niệm các vua Hùng là một công trình thuộc khu Cổ Đại của dự án Công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc. Khu tưởng niệm tọa lạc trên ...














































