Home » Posts filed under Tuyến xe - Đường xá
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyến xe - Đường xá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyến xe - Đường xá. Hiển thị tất cả bài đăng
Khám phá 7 đèo huyền thoại
Từ thành phố Cao Bằng, tiếp tục đi theo Quốc Lộ 3 chừng hơn 20km khi qua huyện Trà Lĩnh sẽ bắt gặp một con đèo với bảy tầng xoáy cua tay áo vô cùng hiểm trở, ấy chính là đèo Mã Phục.
< Chuẩn bị vượt con đèo đầu tiên là đèo Giàng.
Tuyến Quốc lộ 3 bắt đầu từ Hà Nội rồi chạy dài qua các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và kết thúc tại cửa khẩu Tà Nùng, thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Suốt chặng đường dài hơn 300km qua đèo Giàng, đèo Gió, đèo Ngân Sơn, đèo Cao Bắc, đèo Tài Hồ Sìn và đèo Mã Phục.
< Từ TP. Bắc Kạn đến Cao Bằng có độ dài 121 km trong đó phải vượt qua 5 con đèo 3 của Bắc Kạn và 2 của Cao Bằng. Riêng hướng đi của tôi sẽ vượt thêm 2 đèo nữa...
Ảnh bên là đỉnh đèo Giàng với khung cảnh đồi núi vùng cao mờ ảo.
< Sau một hồi cua và đổ đèo chúng tôi cũng đến đèo thứ 2 là đèo Gió. Đây là con đèo cao nhất trong 5 đèo đã kể đầu tiên.
< Ngay từ chân đèo đã là những đoạn cua chữ S liên tục, đoạn đèo này thường là nỗi lo ngại của những tay lái xe tải, xe công-te-nơ, rất nhiều xe bị chết máy, kẹt số phải dừng lại lưng đèo, chưa kể khá nhiều vụ lật xe cũng diễn ra tại đây. Còn riêng tôi thì ngồi sau tay lái lượn những đoạn cua như vậy thật là thích thú và cảm giác rất phiêu...
Nếu du khách đi từ Hà Nội theo tuyến Quốc lộ này lên thác Bản Giốc, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng sẽ phải chia tay tuyến Quốc lộ này ở một địa điểm thuộc chân phía bên kia của con đèo huyền thoại mang tên Mã Phục, con đèo cuối cùng của tuyến Quốc lộ 3. Cái tên đèo đã gắn với một câu chuyện huyền sử của người dân tộc Tày ở vùng đất địa đầu Đông Bắc này.
Tích xưa kể lại rằng, giữa thế kỷ 11 có chàng trai người Tày tên là Nùng Chí Cao, con của một thủ lĩnh địa phương vốn rất thông minh và tài giỏi.
< Đèo Tài Hồ Sìn trong ngày nắng đẹp.
Khi giặc phương Bắc kéo xuống xâm lược bờ cõi, Nùng Chí Cao đã lãnh đạo nhân dân đứng lên dẹp giặc cứu nước, trả lại sự bình yên cho nhân dân vùng biên viễn. Khi bờ cõi đã yên, trong một lần cưỡi ngựa đi tuần tra biên giới trở về, Nùng Chí Cao băng qua một thung lũng rộng lớn. Khi đến giữa thung lũng thì thấy phía những đỉnh núi xa có mấy nàng tiên đang vẫy gọi. Chàng đã không dừng lại mà tiếp tục đi...
< Chân đèo Mã Phục.
Về đến địa phận thuộc xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng ngày nay, gặp con đèo cao quanh co, dốc đứng án ngữ trước mặt, chiến mã của Nùng Chí Cao không thể đi tiếp được nữa liền khụyu xuống. Cái tên đèo Mã Phục (ngựa quỳ) cũng có từ ngày đó. Thung lũng nơi có nàng tiên vẫy gọi Nùng Chí Cao được nhân dân đặt tên là Lũng Riệc (nghĩa là thung lũng vẫy gọi), còn vùng dưới chân đèo Mã Phục được gọi là Lũng Rặp (thung lũng đón tiếp người anh hùng trở về).
< Cả một vùng rừng núi bao la nhìn từ đỉnh đèo Mã Phục.
Ngày nay, tuyến Quốc lộ 3 đi Cao Bằng đã trở thành một trong những cung đường huyền thoại của những bước chân khám phá. Tuyến đường 7 đèo huyền thoại ấy, những bước chân du khách sẽ được khám phá những gì tươi đẹp nhất của cả một vùng Đông Bắc.
< Đèo Khau Liêu.
Qua đèo Mã Phục, khi vừa xuống đến chân đèo rẽ trái sẽ đến với làng Tổng Cọt - nơi có cây đa già nổi tiếng hơn trăm tuổi và những phiên chợ trâu ngày chủ nhật, ghé thăm làng cổ Nà Ngắn, đến với cửa khẩu Trà Lĩnh.
Nếu đến Quảng Uyên rẽ trái ngược lên đèo Khau Liêu để đến Trùng Khánh, xuyên qua những rừng cây dẻ rì rào, tới thăm động Ngườm Ngao, thác Bản Giốc kỳ vĩ trên dòng Quây Sơn xanh biếc. Tiếp tục hành trình tới Hạ Lang, điểm cuối của tỉnh Cao Bằng.
< Cửa khẩu quốc gia Tà Lùng, Cao Bằng.
Còn nếu qua Quảng Uyên rẽ phải là đường đến cửa khẩu quốc tế Tà Lùng, một cửa khẩu kinh tế sầm uất vào bậc nhất của vùng Đông Bắc. Còn như như rẽ trái ở ngã ba lưng đèo Khau Liêu, nơi có khu chợ nhỏ nổi tiếng với đặc sản thịt bò có chất lượng ngon hiếm có của cả nước, bước chân lãng du sẽ đến hồ Thang Hen, một hồ nước trong xanh lưng núi quanh năm soi bóng mây trời và những cá ngon đặc sản của đồng bào người Nùng, Tày ở các làng bản ven hồ.
Xem nguồn > - Nguồn 2
Theo An Ninh Thủ Đô + ảnh Phuot.vn cùng nhiều nguồn khác.
Du lịch, GO!
< Chuẩn bị vượt con đèo đầu tiên là đèo Giàng.
Tuyến Quốc lộ 3 bắt đầu từ Hà Nội rồi chạy dài qua các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và kết thúc tại cửa khẩu Tà Nùng, thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Suốt chặng đường dài hơn 300km qua đèo Giàng, đèo Gió, đèo Ngân Sơn, đèo Cao Bắc, đèo Tài Hồ Sìn và đèo Mã Phục.
< Từ TP. Bắc Kạn đến Cao Bằng có độ dài 121 km trong đó phải vượt qua 5 con đèo 3 của Bắc Kạn và 2 của Cao Bằng. Riêng hướng đi của tôi sẽ vượt thêm 2 đèo nữa...
Ảnh bên là đỉnh đèo Giàng với khung cảnh đồi núi vùng cao mờ ảo.
< Sau một hồi cua và đổ đèo chúng tôi cũng đến đèo thứ 2 là đèo Gió. Đây là con đèo cao nhất trong 5 đèo đã kể đầu tiên.
< Ngay từ chân đèo đã là những đoạn cua chữ S liên tục, đoạn đèo này thường là nỗi lo ngại của những tay lái xe tải, xe công-te-nơ, rất nhiều xe bị chết máy, kẹt số phải dừng lại lưng đèo, chưa kể khá nhiều vụ lật xe cũng diễn ra tại đây. Còn riêng tôi thì ngồi sau tay lái lượn những đoạn cua như vậy thật là thích thú và cảm giác rất phiêu...
Nếu du khách đi từ Hà Nội theo tuyến Quốc lộ này lên thác Bản Giốc, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng sẽ phải chia tay tuyến Quốc lộ này ở một địa điểm thuộc chân phía bên kia của con đèo huyền thoại mang tên Mã Phục, con đèo cuối cùng của tuyến Quốc lộ 3. Cái tên đèo đã gắn với một câu chuyện huyền sử của người dân tộc Tày ở vùng đất địa đầu Đông Bắc này. Tích xưa kể lại rằng, giữa thế kỷ 11 có chàng trai người Tày tên là Nùng Chí Cao, con của một thủ lĩnh địa phương vốn rất thông minh và tài giỏi.
< Đèo Tài Hồ Sìn trong ngày nắng đẹp.
Khi giặc phương Bắc kéo xuống xâm lược bờ cõi, Nùng Chí Cao đã lãnh đạo nhân dân đứng lên dẹp giặc cứu nước, trả lại sự bình yên cho nhân dân vùng biên viễn. Khi bờ cõi đã yên, trong một lần cưỡi ngựa đi tuần tra biên giới trở về, Nùng Chí Cao băng qua một thung lũng rộng lớn. Khi đến giữa thung lũng thì thấy phía những đỉnh núi xa có mấy nàng tiên đang vẫy gọi. Chàng đã không dừng lại mà tiếp tục đi...
< Chân đèo Mã Phục.
Về đến địa phận thuộc xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng ngày nay, gặp con đèo cao quanh co, dốc đứng án ngữ trước mặt, chiến mã của Nùng Chí Cao không thể đi tiếp được nữa liền khụyu xuống. Cái tên đèo Mã Phục (ngựa quỳ) cũng có từ ngày đó. Thung lũng nơi có nàng tiên vẫy gọi Nùng Chí Cao được nhân dân đặt tên là Lũng Riệc (nghĩa là thung lũng vẫy gọi), còn vùng dưới chân đèo Mã Phục được gọi là Lũng Rặp (thung lũng đón tiếp người anh hùng trở về).
< Cả một vùng rừng núi bao la nhìn từ đỉnh đèo Mã Phục.
Ngày nay, tuyến Quốc lộ 3 đi Cao Bằng đã trở thành một trong những cung đường huyền thoại của những bước chân khám phá. Tuyến đường 7 đèo huyền thoại ấy, những bước chân du khách sẽ được khám phá những gì tươi đẹp nhất của cả một vùng Đông Bắc.
< Đèo Khau Liêu.
Qua đèo Mã Phục, khi vừa xuống đến chân đèo rẽ trái sẽ đến với làng Tổng Cọt - nơi có cây đa già nổi tiếng hơn trăm tuổi và những phiên chợ trâu ngày chủ nhật, ghé thăm làng cổ Nà Ngắn, đến với cửa khẩu Trà Lĩnh.
Nếu đến Quảng Uyên rẽ trái ngược lên đèo Khau Liêu để đến Trùng Khánh, xuyên qua những rừng cây dẻ rì rào, tới thăm động Ngườm Ngao, thác Bản Giốc kỳ vĩ trên dòng Quây Sơn xanh biếc. Tiếp tục hành trình tới Hạ Lang, điểm cuối của tỉnh Cao Bằng.
< Cửa khẩu quốc gia Tà Lùng, Cao Bằng.
Còn nếu qua Quảng Uyên rẽ phải là đường đến cửa khẩu quốc tế Tà Lùng, một cửa khẩu kinh tế sầm uất vào bậc nhất của vùng Đông Bắc. Còn như như rẽ trái ở ngã ba lưng đèo Khau Liêu, nơi có khu chợ nhỏ nổi tiếng với đặc sản thịt bò có chất lượng ngon hiếm có của cả nước, bước chân lãng du sẽ đến hồ Thang Hen, một hồ nước trong xanh lưng núi quanh năm soi bóng mây trời và những cá ngon đặc sản của đồng bào người Nùng, Tày ở các làng bản ven hồ.
Xem nguồn > - Nguồn 2
Theo An Ninh Thủ Đô + ảnh Phuot.vn cùng nhiều nguồn khác.
Du lịch, GO!
Đường lên 'trời' ở Tây Giang
(VTC News) - Sau những lần vật lộn với con đường mòn lầy lội, đối mặt với cái chết luôn rình rập mỗi khi đi về bản khiến hình ảnh về một con đường khang trang dẫn về tận bản luôn ám ảnh tâm trí Blao. Với ý chí của người con đại ngàn, con đường mang tên BLao đã thành hiện thực.
Xã Tr’Hy cực Tây Quảng Nam nằm ở độ cao trên 1.500m, quanh năm mây mù. Con đường hun hút gần 30 km, nối từ vùng núi phía Đông Trường Sơn ấy xuống vùng trung du quanh co uốn lượn, nhìn xa như con mãng xà trong cổ tích Cơ Tu đang trườn nhanh về phía trung tâm huyện. 35 năm trước, một người đàn ông ở đây đã một mình vạt rừng, rẽ núi, vật lộn với những lớp đất trộn đá của đại ngàn để làm nên con đường ấy.
Ám ảnh con đường về bản!
Chúng tôi đến thôn Voòng, xã Tr’Hy, huyện Tây Giang, Quảng Nam vào một buổi chiều muộn cuối năm. Trời càng về chiều, thôn Voòng càng đẹp. Và càng đẹp hơn khi thôn Voòng ngày càng sung túc, đời sống dân bản ngày càng khấm khá.
< Con đường được mở bằng ý chí nối Tr’Hy tới trung tâm huyện.
Tiếp chúng tôi trong mái nhà Gươl truyền thống của đồng bào Cơ Tu, già làng Clâu BLao (SN 1943) nở nụ cười khỏe khoắn của những người con đại ngàn. Khi chúng tôi hỏi về chuyện mở đường được cho là huyền thoại trên vùng núi này, Blao tâm sự, đó là cả một quá trình gian khổ. Nếu không có ý chí và sự đồng lòng thì khó có thể làm được con đường này.
< Blao trong căn nhà nhỏ của mình cùng những bằng khen ghi nhận công sức của ông trong việc xây dựng con đường mang tên ông.
Blao kể lại, từ khi được bà con bản làng phong tặng cho danh hiệu “y sĩ của bản làng”, mình vui lắm. Mừng cũng có mà lo thì cũng không ít. Blao thường đi khám bệnh cho bà con, có khi hàng chục cây số. Đặc biệt, có nhiều lần đi họp ở trung tâm huyện có khi đi về gần 10 ngày đi bộ khiến BLao nảy sinh ý tưởng: “Làm thế nào để cho dân mình có một con đường đi đúng nghĩa. Và tại sao lại không làm?”.
Vùng núi này, ngày trước người dân ở xã Tr’Hy và các xã như AXan, Ch’Ơm và Ga Ry (tách từ hai xã Tr’Hy và Tr’Um) để xuống trung tâm huyện Tây Giang (xã Lăng hiện nay) phải mất 2- 3 ngày cho quãng đường đi và chừng ấy ngày đêm cho quãng đường về. Còn từ năm 1977 nhập huyện Tây Giang và Đông Giang thành huyện Hiên muốn về trung tâm huyện (thị trấn Prao của huyện Đông Giang ngày nay) phải mất 8 - 9 ngày cho hai quãng đi về.
< Một góc thôn Voòng ngày nay.
Người dân thì không ai hoặc ít ai dám đi về, chỉ có cán bộ khi nào có họp hành thì mới hành quân về trung tâm huyện. Theo Blao thì mỗi lần đi họp, ông áng chừng thời gian đi khoảng bao lâu để chuẩn bị lương thực cho đủ chuyến hành trình. Mỗi lần xuất phát, trên vai BLao nặng trĩu lương thực, nước uống, chăn mền, tấm ni lông… cho chuyến hành trình và không quên cây rìu, rựa để phát cây, cối cùng cái ăng-gô để nấu ăn. Vất vả là vậy nhưng Blao luôn phải đối mặt với sự nguy hiểm.
“Cực nhất vẫn là lúc gặp mưa rừng. Những lúc gặp lũ thì coi như mạng sống của con người giữa chốn hoang sơ nhẹ tênh như chiếc lá. Đặc biệt, những cơn lũ ống bất thần đánh ầm bên tai cuốn đi tất cả những gì có thể", già làng BLao tâm sự.
< Blao bên con đường được ông phóng tuyến qua ngọn cây trong ngày đầu xây dựng.
Sau những lần vật lộn với con đường mòn lầy lội, đối mặt với cái chết luôn rình rập, trong thâm tâm BLao luôn nuôi ý tưởng phải tìm sự sống vững bền cho dân bản mình. Và việc phải có một con đường dẫn về bản luôn ám ảnh Blao.
Phóng tuyến bằng… ngọn cây!
Vào cuối năm 1977, khi quyết tâm nghiên cứu, khảo sát mở một con đường hình thành cũng là lúc ông BLao gặp muôn vàn gian khó. Như một vật thể lạ thả vào vũ trụ… rừng bao la, với những kiến thức số học, căn đo đong đếm, kẻ vẽ, tưởng tượng hình học khiến ông nhiều đêm mất ngủ, quay cuồng tìm hướng đi và nhiều lúc tưởng như vô vọng.
Trên mỗi quả đồi, đỉnh núi, BLao trèo từ cây này qua cây khác, tìm cây cao nhất để mở rộng tầm nhìn và ước lượng. Và các ngọn cây cao suốt dọc tuyến đường về bản đều ghi dấu ấn của Blao mỗi khi “phóng tuyến”. Các cây cao ở phía cuối chân đồi được chọn làm điểm mở đường sao cho hợp lí, thuận tiện nhất. Cứ thế mỗi chân đồi, sườn núi đều có một cây làm “cọc mốc” để mở hướng một con đường… trong tương lai.
Cứ như vậy, hết từ ngọn đồi đến đỉnh núi, hết cây tùng, đến cây lim… BLao hướng về phía chân núi, sườn đồi lấy rựa khắc vào cây, chặt một vài cây nhỏ để làm dấu, hình thành một con đường theo… dấu cây. Khác với nhiều lần trước, những lần đi họp ở trung tâm huyện kết hợp nghiên cứu, khảo sát, ngày đi của BLao kéo dài ra; có khi BLao xin nghỉ 1 tuần, 10 ngày để thực hiện ý nguyện của mình.
< Con đường mang tên BLao nối liền trung tâm xã Tr'Hy đến thôn Voòng trong những ngày đầu xây dựng.
Và cứ thế, ròng rã gần 4 năm, BLao đã đưa ý tưởng xây dựng một con đường thành hiện thực (thể hiện qua dấu cây) để trình bày trước Đảng ủy, UBND, HĐND xã Tr’ Hy, khiến ai cũng… giật mình. Nhiều người còn xầm xì: “Chắc BLao đi rừng nhiều quá nên nhiễm tính… hoang tưởng?”.
Và con đường mang tên Blao!
Khó khăn không chùn ý chí, mỗi lần họp Đảng ủy, UBND, HĐND, học nghị quyết… già làng BLao đều đưa ra ý định mở đường của mình. Mãi đến tháng 7/1981, Đảng ủy, UBND và HĐND mới đồng tình quan điểm.

< Trung tâm xã Lăng ngày một sầm uất hơn.
Và đầu năm 1982, lãnh đạo xã Tr’Hy tiếp tục cử BLao dẫn một đoàn thanh niên đi phát một số cây rừng, khảo sát thêm một lần nữa mới đồng tình “tổng tấn công” mở con đường độc đạo từ xã Lăng lên xã Tr’Hy.
Tháng 7/1982, gần 500 con người gồm cán bộ xã, thôn, thanh niên và bà con thôn bản xã Tr’Hy đồng loạt theo chân BLao đi mở đường. Trên lưng, họ gùi theo lương thực và những thứ cần thiết để chặt rừng, san đồi, cào đất… BLao dẫn 10 thanh niên lực lưỡng đi trước, đo và chặt phần cây trên làm dấu. Phía sau, chia thành từng thôn, mỗi thôn làm từng đoạn. Đất bụi thấm mồ hôi, mưa rừng xối xả, nắng cháy trên đầu vẫn không ngăn được con đường với bề ngang 1m, bề dài từ xã Lăng về tới thôn Voòng, trung tâm xã Tr’Hy dài 37 km ven theo những chân đồi.

< Trung tâm hành chính huyện Tây Giang.
Tháng 8/1982, con đường lộ diện, kể cả BLao và những người chứng kiến dường như không tin trước mắt mình là sự thật. Đồng bào đi trên con đường hơn 20km mà lòng dạ xốn xao, niềm vui chất đầy tiếng cười lẫn những giọt nước mắt vui sướng.
Sau ngày mở đường, ước vọng và tầm mắt cũng như bước chân của đồng bào được tiến xa hơn, người dưới xuôi lên sinh sống đông hơn, các bản làng giao lưu thân thiện hơn. Nhiều bệnh nhân tưởng chừng không thể sống, nhờ con đường đã chuyển đến trạm y tế kịp thời và đã được cứu sống... Từ đó, người dân gọi con đường này mang tên BLao để ghi nhận đóng góp của ông.
Nối tiếp con đường no ấm
< Lực lượng thanh niên tình nguyện của Tỉnh đoàn Quảng Nam cùng thanh niên xã Tr'hy làm cầu bắc qua suối nối tuyến đường Clâu Bhlao về các thôn.
Con đường được mở rộng nhờ dự án mở tuyến đường vùng biên giới do Nhà nước đầu tư. Điểm nối đầu tiên bắt đầu từ A Zích, xã A Vương trên đường Hồ Chí Minh lên bốn xã vùng cao biên giới (xã Gari mới thành lập) trên nền con đường cũ năm nào của Clâu BLao và bà con Cơ Tu mở, bây giờ ôtô công vụ chỉ mất đúng hai tiếng đồng hồ về đến trung tâm xã Lăng (trung tâm tạm thời của huyện Tây Giang).
Ngày nay, thanh niên bốn xã vùng cao biên giới noi gương Clâu BLao tiếp tục mở những con đường về các thôn làng. Những con đường đã mở toang cánh cửa vùng phía tây của Quảng Nam, nối thông với quốc lộ 14D và đường Hồ Chí Minh tạo một tuyến giao thông liên hoàn dọc theo chiều dài hơn 170km vùng biên.
Xem thêm >
Theo VTC News
Du lịch, GO!
Xã Tr’Hy cực Tây Quảng Nam nằm ở độ cao trên 1.500m, quanh năm mây mù. Con đường hun hút gần 30 km, nối từ vùng núi phía Đông Trường Sơn ấy xuống vùng trung du quanh co uốn lượn, nhìn xa như con mãng xà trong cổ tích Cơ Tu đang trườn nhanh về phía trung tâm huyện. 35 năm trước, một người đàn ông ở đây đã một mình vạt rừng, rẽ núi, vật lộn với những lớp đất trộn đá của đại ngàn để làm nên con đường ấy.
Ám ảnh con đường về bản!
Chúng tôi đến thôn Voòng, xã Tr’Hy, huyện Tây Giang, Quảng Nam vào một buổi chiều muộn cuối năm. Trời càng về chiều, thôn Voòng càng đẹp. Và càng đẹp hơn khi thôn Voòng ngày càng sung túc, đời sống dân bản ngày càng khấm khá.
< Con đường được mở bằng ý chí nối Tr’Hy tới trung tâm huyện.
Tiếp chúng tôi trong mái nhà Gươl truyền thống của đồng bào Cơ Tu, già làng Clâu BLao (SN 1943) nở nụ cười khỏe khoắn của những người con đại ngàn. Khi chúng tôi hỏi về chuyện mở đường được cho là huyền thoại trên vùng núi này, Blao tâm sự, đó là cả một quá trình gian khổ. Nếu không có ý chí và sự đồng lòng thì khó có thể làm được con đường này.
< Blao trong căn nhà nhỏ của mình cùng những bằng khen ghi nhận công sức của ông trong việc xây dựng con đường mang tên ông.
Blao kể lại, từ khi được bà con bản làng phong tặng cho danh hiệu “y sĩ của bản làng”, mình vui lắm. Mừng cũng có mà lo thì cũng không ít. Blao thường đi khám bệnh cho bà con, có khi hàng chục cây số. Đặc biệt, có nhiều lần đi họp ở trung tâm huyện có khi đi về gần 10 ngày đi bộ khiến BLao nảy sinh ý tưởng: “Làm thế nào để cho dân mình có một con đường đi đúng nghĩa. Và tại sao lại không làm?”.
Vùng núi này, ngày trước người dân ở xã Tr’Hy và các xã như AXan, Ch’Ơm và Ga Ry (tách từ hai xã Tr’Hy và Tr’Um) để xuống trung tâm huyện Tây Giang (xã Lăng hiện nay) phải mất 2- 3 ngày cho quãng đường đi và chừng ấy ngày đêm cho quãng đường về. Còn từ năm 1977 nhập huyện Tây Giang và Đông Giang thành huyện Hiên muốn về trung tâm huyện (thị trấn Prao của huyện Đông Giang ngày nay) phải mất 8 - 9 ngày cho hai quãng đi về.
< Một góc thôn Voòng ngày nay.
Người dân thì không ai hoặc ít ai dám đi về, chỉ có cán bộ khi nào có họp hành thì mới hành quân về trung tâm huyện. Theo Blao thì mỗi lần đi họp, ông áng chừng thời gian đi khoảng bao lâu để chuẩn bị lương thực cho đủ chuyến hành trình. Mỗi lần xuất phát, trên vai BLao nặng trĩu lương thực, nước uống, chăn mền, tấm ni lông… cho chuyến hành trình và không quên cây rìu, rựa để phát cây, cối cùng cái ăng-gô để nấu ăn. Vất vả là vậy nhưng Blao luôn phải đối mặt với sự nguy hiểm.
“Cực nhất vẫn là lúc gặp mưa rừng. Những lúc gặp lũ thì coi như mạng sống của con người giữa chốn hoang sơ nhẹ tênh như chiếc lá. Đặc biệt, những cơn lũ ống bất thần đánh ầm bên tai cuốn đi tất cả những gì có thể", già làng BLao tâm sự.
< Blao bên con đường được ông phóng tuyến qua ngọn cây trong ngày đầu xây dựng.
Sau những lần vật lộn với con đường mòn lầy lội, đối mặt với cái chết luôn rình rập, trong thâm tâm BLao luôn nuôi ý tưởng phải tìm sự sống vững bền cho dân bản mình. Và việc phải có một con đường dẫn về bản luôn ám ảnh Blao.
Phóng tuyến bằng… ngọn cây!
Vào cuối năm 1977, khi quyết tâm nghiên cứu, khảo sát mở một con đường hình thành cũng là lúc ông BLao gặp muôn vàn gian khó. Như một vật thể lạ thả vào vũ trụ… rừng bao la, với những kiến thức số học, căn đo đong đếm, kẻ vẽ, tưởng tượng hình học khiến ông nhiều đêm mất ngủ, quay cuồng tìm hướng đi và nhiều lúc tưởng như vô vọng.
Trên mỗi quả đồi, đỉnh núi, BLao trèo từ cây này qua cây khác, tìm cây cao nhất để mở rộng tầm nhìn và ước lượng. Và các ngọn cây cao suốt dọc tuyến đường về bản đều ghi dấu ấn của Blao mỗi khi “phóng tuyến”. Các cây cao ở phía cuối chân đồi được chọn làm điểm mở đường sao cho hợp lí, thuận tiện nhất. Cứ thế mỗi chân đồi, sườn núi đều có một cây làm “cọc mốc” để mở hướng một con đường… trong tương lai.
Cứ như vậy, hết từ ngọn đồi đến đỉnh núi, hết cây tùng, đến cây lim… BLao hướng về phía chân núi, sườn đồi lấy rựa khắc vào cây, chặt một vài cây nhỏ để làm dấu, hình thành một con đường theo… dấu cây. Khác với nhiều lần trước, những lần đi họp ở trung tâm huyện kết hợp nghiên cứu, khảo sát, ngày đi của BLao kéo dài ra; có khi BLao xin nghỉ 1 tuần, 10 ngày để thực hiện ý nguyện của mình.
< Con đường mang tên BLao nối liền trung tâm xã Tr'Hy đến thôn Voòng trong những ngày đầu xây dựng.
Và cứ thế, ròng rã gần 4 năm, BLao đã đưa ý tưởng xây dựng một con đường thành hiện thực (thể hiện qua dấu cây) để trình bày trước Đảng ủy, UBND, HĐND xã Tr’ Hy, khiến ai cũng… giật mình. Nhiều người còn xầm xì: “Chắc BLao đi rừng nhiều quá nên nhiễm tính… hoang tưởng?”.
Và con đường mang tên Blao!
Khó khăn không chùn ý chí, mỗi lần họp Đảng ủy, UBND, HĐND, học nghị quyết… già làng BLao đều đưa ra ý định mở đường của mình. Mãi đến tháng 7/1981, Đảng ủy, UBND và HĐND mới đồng tình quan điểm.

< Trung tâm xã Lăng ngày một sầm uất hơn.
Và đầu năm 1982, lãnh đạo xã Tr’Hy tiếp tục cử BLao dẫn một đoàn thanh niên đi phát một số cây rừng, khảo sát thêm một lần nữa mới đồng tình “tổng tấn công” mở con đường độc đạo từ xã Lăng lên xã Tr’Hy.
Tháng 7/1982, gần 500 con người gồm cán bộ xã, thôn, thanh niên và bà con thôn bản xã Tr’Hy đồng loạt theo chân BLao đi mở đường. Trên lưng, họ gùi theo lương thực và những thứ cần thiết để chặt rừng, san đồi, cào đất… BLao dẫn 10 thanh niên lực lưỡng đi trước, đo và chặt phần cây trên làm dấu. Phía sau, chia thành từng thôn, mỗi thôn làm từng đoạn. Đất bụi thấm mồ hôi, mưa rừng xối xả, nắng cháy trên đầu vẫn không ngăn được con đường với bề ngang 1m, bề dài từ xã Lăng về tới thôn Voòng, trung tâm xã Tr’Hy dài 37 km ven theo những chân đồi.

< Trung tâm hành chính huyện Tây Giang.
Tháng 8/1982, con đường lộ diện, kể cả BLao và những người chứng kiến dường như không tin trước mắt mình là sự thật. Đồng bào đi trên con đường hơn 20km mà lòng dạ xốn xao, niềm vui chất đầy tiếng cười lẫn những giọt nước mắt vui sướng.
Sau ngày mở đường, ước vọng và tầm mắt cũng như bước chân của đồng bào được tiến xa hơn, người dưới xuôi lên sinh sống đông hơn, các bản làng giao lưu thân thiện hơn. Nhiều bệnh nhân tưởng chừng không thể sống, nhờ con đường đã chuyển đến trạm y tế kịp thời và đã được cứu sống... Từ đó, người dân gọi con đường này mang tên BLao để ghi nhận đóng góp của ông.
Nối tiếp con đường no ấm
< Lực lượng thanh niên tình nguyện của Tỉnh đoàn Quảng Nam cùng thanh niên xã Tr'hy làm cầu bắc qua suối nối tuyến đường Clâu Bhlao về các thôn.
Con đường được mở rộng nhờ dự án mở tuyến đường vùng biên giới do Nhà nước đầu tư. Điểm nối đầu tiên bắt đầu từ A Zích, xã A Vương trên đường Hồ Chí Minh lên bốn xã vùng cao biên giới (xã Gari mới thành lập) trên nền con đường cũ năm nào của Clâu BLao và bà con Cơ Tu mở, bây giờ ôtô công vụ chỉ mất đúng hai tiếng đồng hồ về đến trung tâm xã Lăng (trung tâm tạm thời của huyện Tây Giang).
Ngày nay, thanh niên bốn xã vùng cao biên giới noi gương Clâu BLao tiếp tục mở những con đường về các thôn làng. Những con đường đã mở toang cánh cửa vùng phía tây của Quảng Nam, nối thông với quốc lộ 14D và đường Hồ Chí Minh tạo một tuyến giao thông liên hoàn dọc theo chiều dài hơn 170km vùng biên.
Xem thêm >
Theo VTC News
Du lịch, GO!
Khe Phương: vùng đất bị lãng quên...
Mỗi khi nhắc tới Quảng Ninh, hẳn ai cũng nghĩ ngay tới những địa danh nổi tiếng đã được nhiều người biết đến hàng chục năm nay như thắng cảnh Vịnh Hạ Long, Bãi Cháy, vịnh Bái Tử Long, đảo Vân Đồn, Cô Tô, núi Yên Tử hay cửa khẩu Móng Cái với bãi biển Trà Cổ... hoặc ít ra là những mỏ than như Cẩm Phả, Mạo Khê vốn đã làm giàu cho biết bao nhiêu thế hệ người Quảng Ninh.
Ít ai biết được, bên cạnh những địa danh mà có khi cả thế giới biết đến đó, Quảng Ninh vẫn còn những vùng đất cực kỳ hoang sơ chẳng có mấy bóng người với núi rừng, sông suối đan xen, những nơi mà người Kinh ít khi đặt chân tới.
< Ngày nắng, đường cũng sình lên những lớp bùn đất dày nhấp nhô.
Cuộc sống ở nơi đây khác hẳn với những gì chúng ta vẫn thường hình dung về một Quảng Ninh giàu có, hiện đại vốn đã quá quen thuộc với mọi người.
< Xe máy cũng "lội" qua suối, dưới bánh xe là vô vàn đá trơn.
Thông thường, với 4 tiếng đồng hồ, một chiếc xe khách có thể vượt chừng gần 200km để di chuyển từ Hạ Long đến Hà Nội hoặc Hạ Long - Móng Cái. Nhưng, với người dân thôn Khe Phương, xã Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh, phải mất 4 tiếng mới có thể ra được đến trung tâm xã, mặc dù chỉ cách bản có 9km đường.
< Con suối thứ hai sâu hơn, xe "bơi" ngập bánh.
Có trực tiếp đi trên con đường ấy mới thấu hiểu nỗi vất vả, nhọc nhằn của bà con nơi đây. Đường chỉ duy nhất một mặt bằng nhấp nhô rộng chừng 2 - 3m kéo dài 9km, chưa hề được đầu tư để gọi là nền đường. Con đường đầy đất đá, dốc cao và phải vượt qua nhiều khe suối.
< Đường không có mặt phẳng.
Ngày mưa, giữa mênh mông nước, bà con đi bộ cả 4 tiếng đồng hồ mới ra được đến trung tâm xã. Ngày nắng, những vũng nước còn đọng lại sau mưa, bùn đất sình lên rắn chắc. Xe máy 'bơi' qua dòng suối rộng, sâu đến ngập cả bánh, rồi lại "trèo" qua những tảng đá, sỏi nhấp nhô trên đường. Chưa hết: những đoạn dốc cao ngất sẳn sàng làm 'xòe' bất kỳ tay lái nào nếu không thật chú ý hoặc không đủ sức rướm.
< Trẻ em ở Khe Phương. Thứ bạn cần mang theo là ít quà bánh hay quần áo trẻ em nếu có thể...
Vào mùa mưa, khi lũ về thì Khe Phương sẽ bị chia cắt hoàn toàn với bên ngoài và cũng sẽ khá nguy hiểm nếu có lũ quét.
Ở bản Khe Phương, bà con không ở tập trung mà rải rác khắp một thung lũng rộng xen lẫn với cây rừng. Đa phần là người Dao thuộc dòng Dao Thanh Phán.
Người Dao Thanh Phán ở đây chỉ có phụ nữ lớn tuổi là vẫn còn mặc trang phục dân tộc hàng ngày. Họ cũng cạo đầu và lông mày giống người Dao Đỏ... nhưng không mang các đồ trang sức và phụ kiện bằng bạc trắng như người Dao Đỏ mà trang phục khá giản dị với một chiếc khăn đen trùm đầu.
Riêng người trẻ hơn lại trắng trẻo và có gương mặt thanh thoát: đẹp giai lẫn đẹp gái dù đa phần họ đều có gia đình và cuộc sống rất vất vả giữa chốn thâm sơn cùng cốc này.
Đến vùng sâu và xa này, để tránh phiền phức thì tốt nhất bạn nên làm sẳn cái giấy giới thiệu của thành đoàn hay gì đó để trình báo trưởng thôn cũng như công an viên của bản để xóa tan các nghi ngờ của người dân. Sau đó bạn sẽ được đối xử thật tốt và có thể ở tạm tại nhà văn hóa của thôn.
< Nhà văn hóa của bản Khe Phương.
Nhà văn hóa của bản Khe Phương khá khang trang, lợp phibro xi măng, vách bằng ván gỗ, bên trong kê bàn ghế để họp và có cả loa đài, TV để hát karaoke.
< Thiên nhiên Khe Phương thừa sức chinh phục kẻ phượt.
Ở vùng này, rất nhiều địa danh được gắn với chữ "khe", có lẽ từ "khe" cũng được dùng giống như từ "nậm" nghĩa là suối để đăt tên địa danh của khu vực Tây Bắc.
Khe Phương: một vùng đất đẹp và con người chân chất với con đường đến thật gian nan. Vậy nhưng chính sự cách trở khó khăn này lại tạo ra một thiên đường cho dân Offroad.
Trích từ blog Battramdao, QTV
Du lịch, GO!
Ít ai biết được, bên cạnh những địa danh mà có khi cả thế giới biết đến đó, Quảng Ninh vẫn còn những vùng đất cực kỳ hoang sơ chẳng có mấy bóng người với núi rừng, sông suối đan xen, những nơi mà người Kinh ít khi đặt chân tới.
< Ngày nắng, đường cũng sình lên những lớp bùn đất dày nhấp nhô.
Cuộc sống ở nơi đây khác hẳn với những gì chúng ta vẫn thường hình dung về một Quảng Ninh giàu có, hiện đại vốn đã quá quen thuộc với mọi người.
< Xe máy cũng "lội" qua suối, dưới bánh xe là vô vàn đá trơn.
Thông thường, với 4 tiếng đồng hồ, một chiếc xe khách có thể vượt chừng gần 200km để di chuyển từ Hạ Long đến Hà Nội hoặc Hạ Long - Móng Cái. Nhưng, với người dân thôn Khe Phương, xã Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh, phải mất 4 tiếng mới có thể ra được đến trung tâm xã, mặc dù chỉ cách bản có 9km đường.
< Con suối thứ hai sâu hơn, xe "bơi" ngập bánh.
Có trực tiếp đi trên con đường ấy mới thấu hiểu nỗi vất vả, nhọc nhằn của bà con nơi đây. Đường chỉ duy nhất một mặt bằng nhấp nhô rộng chừng 2 - 3m kéo dài 9km, chưa hề được đầu tư để gọi là nền đường. Con đường đầy đất đá, dốc cao và phải vượt qua nhiều khe suối.
< Đường không có mặt phẳng.
Ngày mưa, giữa mênh mông nước, bà con đi bộ cả 4 tiếng đồng hồ mới ra được đến trung tâm xã. Ngày nắng, những vũng nước còn đọng lại sau mưa, bùn đất sình lên rắn chắc. Xe máy 'bơi' qua dòng suối rộng, sâu đến ngập cả bánh, rồi lại "trèo" qua những tảng đá, sỏi nhấp nhô trên đường. Chưa hết: những đoạn dốc cao ngất sẳn sàng làm 'xòe' bất kỳ tay lái nào nếu không thật chú ý hoặc không đủ sức rướm.
< Trẻ em ở Khe Phương. Thứ bạn cần mang theo là ít quà bánh hay quần áo trẻ em nếu có thể...
Vào mùa mưa, khi lũ về thì Khe Phương sẽ bị chia cắt hoàn toàn với bên ngoài và cũng sẽ khá nguy hiểm nếu có lũ quét.
Ở bản Khe Phương, bà con không ở tập trung mà rải rác khắp một thung lũng rộng xen lẫn với cây rừng. Đa phần là người Dao thuộc dòng Dao Thanh Phán.
Người Dao Thanh Phán ở đây chỉ có phụ nữ lớn tuổi là vẫn còn mặc trang phục dân tộc hàng ngày. Họ cũng cạo đầu và lông mày giống người Dao Đỏ... nhưng không mang các đồ trang sức và phụ kiện bằng bạc trắng như người Dao Đỏ mà trang phục khá giản dị với một chiếc khăn đen trùm đầu.
Riêng người trẻ hơn lại trắng trẻo và có gương mặt thanh thoát: đẹp giai lẫn đẹp gái dù đa phần họ đều có gia đình và cuộc sống rất vất vả giữa chốn thâm sơn cùng cốc này.
Đến vùng sâu và xa này, để tránh phiền phức thì tốt nhất bạn nên làm sẳn cái giấy giới thiệu của thành đoàn hay gì đó để trình báo trưởng thôn cũng như công an viên của bản để xóa tan các nghi ngờ của người dân. Sau đó bạn sẽ được đối xử thật tốt và có thể ở tạm tại nhà văn hóa của thôn.
< Nhà văn hóa của bản Khe Phương.
Nhà văn hóa của bản Khe Phương khá khang trang, lợp phibro xi măng, vách bằng ván gỗ, bên trong kê bàn ghế để họp và có cả loa đài, TV để hát karaoke.
< Thiên nhiên Khe Phương thừa sức chinh phục kẻ phượt.
Ở vùng này, rất nhiều địa danh được gắn với chữ "khe", có lẽ từ "khe" cũng được dùng giống như từ "nậm" nghĩa là suối để đăt tên địa danh của khu vực Tây Bắc.
Khe Phương: một vùng đất đẹp và con người chân chất với con đường đến thật gian nan. Vậy nhưng chính sự cách trở khó khăn này lại tạo ra một thiên đường cho dân Offroad.
Trích từ blog Battramdao, QTV
Du lịch, GO!
Ký ức về con đường ra trận
(Bùi Văn Hoằng) - Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: thực hiện chủ trương chiến lược ngày 15/9/1959, Bộ chính trị và quân ủy trung ương đã quyết định, thành lập đoàn 559 để mở đường giao liên, mở đường vận tải quân sự chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.
Đi qua đất Quảng Bình có nhiều con đường xuyên Trường sơn đó là đường 20, đường 15A, đường 12A, đường 16A, đường 10 hay còn có tên là đường 20/7…
Đường 10 là con đường sinh sau đẻ muộn, đường 10 xuất phát từ ngã ba Áng Sơn, xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, xuyên Trường Sơn đi về phía tây có chiều dài 72km.
Do thất bại ở khắp các chiến trường miền Nam, địch tăng cường đánh phá nhằm ngăn chặn sự chi viện cho chiến trường miền Nam của chúng ta. Vì vậy tháng 4/1967 Trung ương đoàn và Bộ giao thông vận tải đã huy động 6000 TNXP ở các tỉnh phía Bắc vào tham gia mở đường. Đường 10 đã đổ không ít máu xương của chiến sĩ ta, vì vậy mới có câu “ Chưa đi chưa biết đường 10, đi rồi mới biết sức người sức ta”.

< Ngầm Long Đại trên đường 10.
17g ngày 13 tháng 4/1971 C449 TNXP huyện Hà Trung đặt chân lên đường 10, đêm đầu tiên dừng chân ở rừng cao su Quảng Ninh tất cả không ai chợp mắt được. Sáng hôm sau chúng tôi bắt đầu hành quân vào đường 10. Cái nắng tháng tư như đổ lửa, đường quanh co, đèo dốc, trên bầu trời bọn F4 chao đảo dòm ngó.
Chiều hôm ấy đơn vị chúng tôi tập kết đầy đủ tại km 45 và cũng chính là nơi đơn vị đóng quân. Doanh trại đơn vị cách tuyến đường khoảng 1km. Bên kia con suối là bệnh xá của tổng đội 44 và mấy đơn vị dân công hỏa tuyến quê Hà Tĩnh. Đơn vị được đảm nhiệm cung đường từ km43 đến km48, từ km 48 trở vào đường quanh co, nhiều đèo dốc hiểm trở, cua gấp.
Lên đến km50 là cung đường do C445 TNXP huyện Vĩnh Lộc đảm nhiệm. Đoạn đường này càng lên cao càng hiểm trở, một bên vách đứng một bên vực sâu. Càng đi lên thì sương mù càng dày đặc, lên đến km57 là đỉnh dốc thì chỉ thấy một màu trắng đục của sương. Tại vị trí này nếu vào những ngày nắng, trời trong thì sẽ nhìn thấy biển Quảng Bình. Đi vào từ km58 thì đường chuyển hướng, vách núi bên phía đông còn phía tây thì vực thẳm, buổi chiều hưởng trọn cái nắng Trường Sơn.

< Cầu Long Đại trên đường 10 (thời chiến tranh nơi đây là ngầm).
Vào một đêm cuối tháng 10/1971 tại km 62+500, có một chiến xe téc chở đầy hàng nhu yếu phẩm bị lăn xuống vực nhưng rất may chiếc xe dừng lại cách mặt đường khoảng 20m vì có một cây to ngăn lại. Hai chiến sĩ lái xe đã được các chiến sĩ C447 TNXP huyện Thiệu Hóa kịp thời đưa vào trạm quân y27 cấp cứu. Đi tiếp đến km67, hoặc 68 thì có nhánh rẽ vào một con đường, đường này gọi là đường 16E.
Được biết để chuẩn bị chiến dịch đường chín Nam Lào thì đường 16E được mở để rút ngắn cung đường vào đường 9. Vì thế con đường này bị máy bay đánh phá ác liệt, dọc đường chỉ có màu đỏ của đất. Đi vào đường 16E chừng 400m thì có lối rẽ vào Cù Bai nơi ấy có khu tăng gia, trồng rau chăn nuôi lợn, gà của Ban hậu cần E98 công binh và đơn vị chúng tôi.
Trở lại với km68 đường 10 đó là một cua gấp khúc thường gọi là cua tay áo, từ km68 đến km70 đường 10 thì đường thấp dần, tại vị trí km70 là lối rẽ vào đơn vị và trạm quân y27 và một số đơn vị xe…
Đơn vị C449 chúng tôi vào chốt giữ km68 đến km72 từ tháng 6/1971. Vào km71+500 phải qua cái ngầm, nơi đây được gọi là ngầm Dân Chủ, nơi này máy bay đánh phá ác liệt không kể ngày đêm vì thế còn có tên ngầm Âm Phủ. Ở ngã ba Dân Chủ đường 10 gặp đường 16 rồi từ đây đi tiếp vào đường 9.

< Bia di tich lịch sử Tăng Ký (km 33 đường 10).
Những tháng năm ở Trường Sơn biết bao gian khổ hy sinh, thiếu thốn, mưa rừng, nắng lửa, cái sống cái chết cận kề. Vậy mà từ cán bộ đến chiến sĩ tất cả đều lạc quan, yêu đời. Cuối năm 1972 đơn vị chúng tôi được lệnh ra chốt đường ngầm hay còn có tên gọi đường xe con, vì con đường này đi dọc theo một con suối cạn, chính con đường này là điểm xuất phát đường ống xăng dầu đi vào phía nam.
Cũng trong thời gian này đơn vị C449 được tổng đội 44 bàn giao cho trung đoàn công binh 99 thuộc đoàn 559. Chúng tôi rời tây Trường Sơn ra chốt giữ đường 15A, nơi có bến phà Long Đại. Mức độ ác liệt ở đây cũng kém gì ngã ba Dân Chủ đường 10. Nhưng với tinh thần “Sống bám cầu, bám đường/ Chết kiên cường dũng cảm”, đơn vị chúng tôi luôn vượt lên bom đạn để đảm bảo cho những chuyến xe ra trận.
Xa núi rừng trường Sơn, chúng tôi lại được sống trong sự yêu thương đùm bọc của bà con thôn Xuân dục. Các mẹ, các chị các em đã tạo mọi điều kiện để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Thời gian qua đi, chiến tranh lùi vào dĩ vãng nhưng những địa danh: Ngã ba Dân Chủ, km 69, cua Tay áo, km45 đường 10, km7 và km20 đường xe con rồi bến phà Long Đại mãi mãi là những kỷ niệm của một thời Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ.
< Sông Sê Băng Hiêng.
Sau chiến tranh đường 10 hầu như quên lãng, nhiều đoạn không còn là đường nữa, cây cối cỏ mọc rồi đất sụt lở và đường 10 chỉ còn trong ký ức. Đến năm 2007 đường 10 được khôi phục lại và nay đường 10 là con đường nối hai nhánh Đông và Tây Trường Sơn, đường 10 được khôi phục là một sự kiện lớn đối với đồng bào Vân Kiều sống dọc tuyến đường, bởi vì họ được thông thương với đồng bào miền xuôi.
Chính đường 10 như một sợi chỉ đỏ nối xã Vạn Ninh huyện Quảng Ninh với các xã Ngân Thủy, Lâm Thủy của huyện Lệ Thủy và cũng là con đường đem lại no ấm và tương lại tươi đẹp của đồng bào các dân tộc tỉnh Quảng Bình.
Bùi Văn Hoằng
Hà Bình-Hà Trung-Thanh Hóa
Email: hoang1592@gmail.com
Du lịch, GO! trân trọng cảm ơn tác giả.
Còn mãi những con đường...
Đi qua đất Quảng Bình có nhiều con đường xuyên Trường sơn đó là đường 20, đường 15A, đường 12A, đường 16A, đường 10 hay còn có tên là đường 20/7…
Đường 10 là con đường sinh sau đẻ muộn, đường 10 xuất phát từ ngã ba Áng Sơn, xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, xuyên Trường Sơn đi về phía tây có chiều dài 72km.
Do thất bại ở khắp các chiến trường miền Nam, địch tăng cường đánh phá nhằm ngăn chặn sự chi viện cho chiến trường miền Nam của chúng ta. Vì vậy tháng 4/1967 Trung ương đoàn và Bộ giao thông vận tải đã huy động 6000 TNXP ở các tỉnh phía Bắc vào tham gia mở đường. Đường 10 đã đổ không ít máu xương của chiến sĩ ta, vì vậy mới có câu “ Chưa đi chưa biết đường 10, đi rồi mới biết sức người sức ta”.

< Ngầm Long Đại trên đường 10.
17g ngày 13 tháng 4/1971 C449 TNXP huyện Hà Trung đặt chân lên đường 10, đêm đầu tiên dừng chân ở rừng cao su Quảng Ninh tất cả không ai chợp mắt được. Sáng hôm sau chúng tôi bắt đầu hành quân vào đường 10. Cái nắng tháng tư như đổ lửa, đường quanh co, đèo dốc, trên bầu trời bọn F4 chao đảo dòm ngó.
Chiều hôm ấy đơn vị chúng tôi tập kết đầy đủ tại km 45 và cũng chính là nơi đơn vị đóng quân. Doanh trại đơn vị cách tuyến đường khoảng 1km. Bên kia con suối là bệnh xá của tổng đội 44 và mấy đơn vị dân công hỏa tuyến quê Hà Tĩnh. Đơn vị được đảm nhiệm cung đường từ km43 đến km48, từ km 48 trở vào đường quanh co, nhiều đèo dốc hiểm trở, cua gấp.
Lên đến km50 là cung đường do C445 TNXP huyện Vĩnh Lộc đảm nhiệm. Đoạn đường này càng lên cao càng hiểm trở, một bên vách đứng một bên vực sâu. Càng đi lên thì sương mù càng dày đặc, lên đến km57 là đỉnh dốc thì chỉ thấy một màu trắng đục của sương. Tại vị trí này nếu vào những ngày nắng, trời trong thì sẽ nhìn thấy biển Quảng Bình. Đi vào từ km58 thì đường chuyển hướng, vách núi bên phía đông còn phía tây thì vực thẳm, buổi chiều hưởng trọn cái nắng Trường Sơn.

< Cầu Long Đại trên đường 10 (thời chiến tranh nơi đây là ngầm).
Vào một đêm cuối tháng 10/1971 tại km 62+500, có một chiến xe téc chở đầy hàng nhu yếu phẩm bị lăn xuống vực nhưng rất may chiếc xe dừng lại cách mặt đường khoảng 20m vì có một cây to ngăn lại. Hai chiến sĩ lái xe đã được các chiến sĩ C447 TNXP huyện Thiệu Hóa kịp thời đưa vào trạm quân y27 cấp cứu. Đi tiếp đến km67, hoặc 68 thì có nhánh rẽ vào một con đường, đường này gọi là đường 16E.
Được biết để chuẩn bị chiến dịch đường chín Nam Lào thì đường 16E được mở để rút ngắn cung đường vào đường 9. Vì thế con đường này bị máy bay đánh phá ác liệt, dọc đường chỉ có màu đỏ của đất. Đi vào đường 16E chừng 400m thì có lối rẽ vào Cù Bai nơi ấy có khu tăng gia, trồng rau chăn nuôi lợn, gà của Ban hậu cần E98 công binh và đơn vị chúng tôi.
Trở lại với km68 đường 10 đó là một cua gấp khúc thường gọi là cua tay áo, từ km68 đến km70 đường 10 thì đường thấp dần, tại vị trí km70 là lối rẽ vào đơn vị và trạm quân y27 và một số đơn vị xe…
Đơn vị C449 chúng tôi vào chốt giữ km68 đến km72 từ tháng 6/1971. Vào km71+500 phải qua cái ngầm, nơi đây được gọi là ngầm Dân Chủ, nơi này máy bay đánh phá ác liệt không kể ngày đêm vì thế còn có tên ngầm Âm Phủ. Ở ngã ba Dân Chủ đường 10 gặp đường 16 rồi từ đây đi tiếp vào đường 9.

< Bia di tich lịch sử Tăng Ký (km 33 đường 10).
Những tháng năm ở Trường Sơn biết bao gian khổ hy sinh, thiếu thốn, mưa rừng, nắng lửa, cái sống cái chết cận kề. Vậy mà từ cán bộ đến chiến sĩ tất cả đều lạc quan, yêu đời. Cuối năm 1972 đơn vị chúng tôi được lệnh ra chốt đường ngầm hay còn có tên gọi đường xe con, vì con đường này đi dọc theo một con suối cạn, chính con đường này là điểm xuất phát đường ống xăng dầu đi vào phía nam.
Cũng trong thời gian này đơn vị C449 được tổng đội 44 bàn giao cho trung đoàn công binh 99 thuộc đoàn 559. Chúng tôi rời tây Trường Sơn ra chốt giữ đường 15A, nơi có bến phà Long Đại. Mức độ ác liệt ở đây cũng kém gì ngã ba Dân Chủ đường 10. Nhưng với tinh thần “Sống bám cầu, bám đường/ Chết kiên cường dũng cảm”, đơn vị chúng tôi luôn vượt lên bom đạn để đảm bảo cho những chuyến xe ra trận.
Xa núi rừng trường Sơn, chúng tôi lại được sống trong sự yêu thương đùm bọc của bà con thôn Xuân dục. Các mẹ, các chị các em đã tạo mọi điều kiện để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Thời gian qua đi, chiến tranh lùi vào dĩ vãng nhưng những địa danh: Ngã ba Dân Chủ, km 69, cua Tay áo, km45 đường 10, km7 và km20 đường xe con rồi bến phà Long Đại mãi mãi là những kỷ niệm của một thời Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ.
< Sông Sê Băng Hiêng.
Sau chiến tranh đường 10 hầu như quên lãng, nhiều đoạn không còn là đường nữa, cây cối cỏ mọc rồi đất sụt lở và đường 10 chỉ còn trong ký ức. Đến năm 2007 đường 10 được khôi phục lại và nay đường 10 là con đường nối hai nhánh Đông và Tây Trường Sơn, đường 10 được khôi phục là một sự kiện lớn đối với đồng bào Vân Kiều sống dọc tuyến đường, bởi vì họ được thông thương với đồng bào miền xuôi.
Chính đường 10 như một sợi chỉ đỏ nối xã Vạn Ninh huyện Quảng Ninh với các xã Ngân Thủy, Lâm Thủy của huyện Lệ Thủy và cũng là con đường đem lại no ấm và tương lại tươi đẹp của đồng bào các dân tộc tỉnh Quảng Bình.
Bùi Văn Hoằng
Hà Bình-Hà Trung-Thanh Hóa
Email: hoang1592@gmail.com
Du lịch, GO! trân trọng cảm ơn tác giả.
Còn mãi những con đường...
Còn mãi những con đường...
Bài viết của anh Bùi Hoằng gởi Dulichgo đề cập về nhiều thắc mắc của anh với con đường 10. Cũng chính anh đã tự giải đáp những gút mắc ấy qua một chuyến đi đến một cõi hùng ca ngày xa xưa...
< Mấy anh em chụp kỷ niệm tại nhà bia.
Đọc một số bài viết về Trường Sơn của các tác giả đăng trên báo Sài gòn Giải Phóng thì không chỉ riêng tôi mà rất rất nhiều đồng chí, đồng đội đã từng ở Trường Sơn trong những năm tháng ác liệt của chiến tranh mới thấy đường Trường Sơn trước kia hầu như bị lãng quên.
< Đường 10: Km 33.
Đầu tháng bảy vừa rồi chúng tôi có dịp trở lại đường 10, con đường được sinh sau đẻ muộn thuộc hệ thống đường mòn Hồ Chí minh, nhưng đường 10 lại là con đường đầy gian khổ ác liệt. đường 10 xuất phát từ km số 0 là thôn Áng Sơn, xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình xuyên Trường Sơn đi về phía Tây có chiều dài 72 km.
Đường 10 được khởi công từ tháng 4/1967, đến năm 1968 thì hoàn thành.
< Đường 10 hòa vào đường HCM nhánh Tây (vị trí Tăng Ký).
Đường 10 đã vượt biết bao đèo cao vực sâu, dốc đứng để tới ngã ba Dân Chủ gặp đường 16 rồi đi tiếp vào đường 9. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Đệ nguyên Bí thư Trung ương Đoàn khóa III, nguyên trưởng ban TNXP thời chống Mỹ, thì cuộc chiến trên đường 10 vô cùng ác liệt, ngoài mưa bom bão đạn thì khẩu phần ăn của mỗi người giảm dần từ 24kg gạo/tháng, xuống còn 10kg, 5kg và cuối cùng thì hết gạo phải dùng rau rừng cầm hơi.
< Đường 16 hòa vào đường HCM nhánh Tây (Đường 16 xuất phát km 0 tại Thạch Bàn, Lệ thủy gặp đường HCM tại km 27).
Lãnh đạo cục công trình I - Bộ giao thông vận tải huy động tất cả xăng dầu còn lại đổ đầy 5 chiếc xe tải mở đường máu trở về hậu cứ xin tiếp tế gạo, khi 5 chiếc xe chất đầy gạo thực phẩm trở lại đường 10. Tất cả mọi người nín thở chờ đợi, khi đoàn xe tới ngầm Âm Phủ (ngầm này tại km 71, 72 đường 10), sau khi qua ngầm rồi vượt dốc là gặp đường 16A đây là ngã ba Dân Chủ”. Máy bay Mỹ phát hiện ném bom, chiến sĩ lái xe hy sinh, lương thực bị cháy hoàn toàn.
< Cầu Sê Băng Hiêng.
Đường 10 tốc độ thi công đạt kỷ lục, cứ một ngày thì mở được một km, tuy nhiên cứ một km đường được mở thì có tới bốn chiến sĩ hy sinh. Con đường đã đổ không ít máu xương của cán bộ chiến sĩ ta,. V ì vậy khi đó mới có câu : “Chưa đi chưa biết đường 10/ Đi rồi mới biết sức người, sức ta”. Sau chiến tranh đường 10 hầu như bị quên lãng, đến năm 2007 đường 10 được khôi phục lại. Tuy nhiên khi đến Tăng Ký km 33 thì đường 10 hòa vào nhánh Tây của đường HCM.
Như vậy từ km 34 trở đi cho đến km 72 không được sử dụng nên mọi dấu tích của đoạn đường này sẽ đi vào ký ức của bộ đội công binh, TNXP, dân công hỏa tuyến và tất cả những người đã đi qua hay ở trên tuyến đường này.
< Đường 10.
Đã từng ở trên đường 10 chúng tôi không thể quên rất nhiều kỷ niệm buồn vui gắn liền với nó, ngay tại km45 là bệnh xá của tổng đội N44 TNXP- Ban XD67, từ km 45 trở đi đường quanh co, đèo dốc, vực thẳm.
Đi trên đoạn đường này lái xe sơ ý là rơi ngay xuống vực: tại km50 vào tháng 5/1971 có một chiếc xe ben Zin130 chở đá để kè ta luy, sau khi đổ đá xong, lái xe sơ ý nên chiếc xe đã rơi xuống vực.

< Nhà bia được xây dựng ngay tại ngã ba tại đây đường 16 xuất phát từ Thạch Bàn, lệ Thủy, Quảng Bình.
Đứng trên đường nhìn xuống thùng ben văng ra nhỏ như chiếc thúng úp, càng đi đường càng lên cao, sương mù càng dày đặc ngay ban ngày mà xe đi đến km 57 cũng phải dùng đèn gầm màu vàng. Đoạn đường này đèo dốc quanh co được ví như cổng trời, đèo sa Mù hay đỉnh một ngàn lẻ một cũng chưa sánh bằng.
Khi vào đến km68 tại đây có một con đường, mà theo lời kể của các anh ở E98 công binh thì đây gọi là đường 16E, được mở để đi vào đường 9 rút ngắn đoạn qua ngã ba Dân chủ và đường 16A, đồng thời chia lửa với ngã ba Dân Chủ.
Vì thế mà con đường này máy bay Mỹ cũng đánh phá suốt ngày đêm, đứng ở đầu con đường chỉ thấy một màu đỏ của đất đỏ, thỉnh thoảng có màu trắng của những chiếc dù đèn. Trở lại km 69 đến km72 đường 10 rồi ngã ba Dân Chủ là bãi chứa bom của Mỹ.
< Bữa ăn trưa tại đồn BP Cù Bai.
Đi ngược suối qua ngầm Dân Chủ sẽ đến khu vực có một số đơn vị đóng quân như E101, E74 vận tải rồi kho của E98 công binh, tiếp tục ngược suối có C449 TNXP, ngược lên chừng hơn một km là Đội điều trị của binh trạm 27.

< Đường 10 xuất phát từ Áng Sơn, Vạn Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình. và tại đây đường thống nhất 16A đi tiếp vào đường 9, Khe sanh.
Trong chiến tranh mặc dù trang bị vật tư kỹ thuật thiếu thốn, nhưng các bác sĩ, y tá, hộ lý đã hết lòng vì thương bệnh binh.
< Mấy anh em chụp kỷ niệm tại nhà bia.
Đọc một số bài viết về Trường Sơn của các tác giả đăng trên báo Sài gòn Giải Phóng thì không chỉ riêng tôi mà rất rất nhiều đồng chí, đồng đội đã từng ở Trường Sơn trong những năm tháng ác liệt của chiến tranh mới thấy đường Trường Sơn trước kia hầu như bị lãng quên.
< Đường 10: Km 33.
Đầu tháng bảy vừa rồi chúng tôi có dịp trở lại đường 10, con đường được sinh sau đẻ muộn thuộc hệ thống đường mòn Hồ Chí minh, nhưng đường 10 lại là con đường đầy gian khổ ác liệt. đường 10 xuất phát từ km số 0 là thôn Áng Sơn, xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình xuyên Trường Sơn đi về phía Tây có chiều dài 72 km.
Đường 10 được khởi công từ tháng 4/1967, đến năm 1968 thì hoàn thành.
< Đường 10 hòa vào đường HCM nhánh Tây (vị trí Tăng Ký).
Đường 10 đã vượt biết bao đèo cao vực sâu, dốc đứng để tới ngã ba Dân Chủ gặp đường 16 rồi đi tiếp vào đường 9. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Đệ nguyên Bí thư Trung ương Đoàn khóa III, nguyên trưởng ban TNXP thời chống Mỹ, thì cuộc chiến trên đường 10 vô cùng ác liệt, ngoài mưa bom bão đạn thì khẩu phần ăn của mỗi người giảm dần từ 24kg gạo/tháng, xuống còn 10kg, 5kg và cuối cùng thì hết gạo phải dùng rau rừng cầm hơi.
< Đường 16 hòa vào đường HCM nhánh Tây (Đường 16 xuất phát km 0 tại Thạch Bàn, Lệ thủy gặp đường HCM tại km 27).
Lãnh đạo cục công trình I - Bộ giao thông vận tải huy động tất cả xăng dầu còn lại đổ đầy 5 chiếc xe tải mở đường máu trở về hậu cứ xin tiếp tế gạo, khi 5 chiếc xe chất đầy gạo thực phẩm trở lại đường 10. Tất cả mọi người nín thở chờ đợi, khi đoàn xe tới ngầm Âm Phủ (ngầm này tại km 71, 72 đường 10), sau khi qua ngầm rồi vượt dốc là gặp đường 16A đây là ngã ba Dân Chủ”. Máy bay Mỹ phát hiện ném bom, chiến sĩ lái xe hy sinh, lương thực bị cháy hoàn toàn.
< Cầu Sê Băng Hiêng.
Đường 10 tốc độ thi công đạt kỷ lục, cứ một ngày thì mở được một km, tuy nhiên cứ một km đường được mở thì có tới bốn chiến sĩ hy sinh. Con đường đã đổ không ít máu xương của cán bộ chiến sĩ ta,. V ì vậy khi đó mới có câu : “Chưa đi chưa biết đường 10/ Đi rồi mới biết sức người, sức ta”. Sau chiến tranh đường 10 hầu như bị quên lãng, đến năm 2007 đường 10 được khôi phục lại. Tuy nhiên khi đến Tăng Ký km 33 thì đường 10 hòa vào nhánh Tây của đường HCM.
Như vậy từ km 34 trở đi cho đến km 72 không được sử dụng nên mọi dấu tích của đoạn đường này sẽ đi vào ký ức của bộ đội công binh, TNXP, dân công hỏa tuyến và tất cả những người đã đi qua hay ở trên tuyến đường này.< Đường 10.
Đã từng ở trên đường 10 chúng tôi không thể quên rất nhiều kỷ niệm buồn vui gắn liền với nó, ngay tại km45 là bệnh xá của tổng đội N44 TNXP- Ban XD67, từ km 45 trở đi đường quanh co, đèo dốc, vực thẳm.
Đi trên đoạn đường này lái xe sơ ý là rơi ngay xuống vực: tại km50 vào tháng 5/1971 có một chiếc xe ben Zin130 chở đá để kè ta luy, sau khi đổ đá xong, lái xe sơ ý nên chiếc xe đã rơi xuống vực.

< Nhà bia được xây dựng ngay tại ngã ba tại đây đường 16 xuất phát từ Thạch Bàn, lệ Thủy, Quảng Bình.
Đứng trên đường nhìn xuống thùng ben văng ra nhỏ như chiếc thúng úp, càng đi đường càng lên cao, sương mù càng dày đặc ngay ban ngày mà xe đi đến km 57 cũng phải dùng đèn gầm màu vàng. Đoạn đường này đèo dốc quanh co được ví như cổng trời, đèo sa Mù hay đỉnh một ngàn lẻ một cũng chưa sánh bằng.
Khi vào đến km68 tại đây có một con đường, mà theo lời kể của các anh ở E98 công binh thì đây gọi là đường 16E, được mở để đi vào đường 9 rút ngắn đoạn qua ngã ba Dân chủ và đường 16A, đồng thời chia lửa với ngã ba Dân Chủ.
Vì thế mà con đường này máy bay Mỹ cũng đánh phá suốt ngày đêm, đứng ở đầu con đường chỉ thấy một màu đỏ của đất đỏ, thỉnh thoảng có màu trắng của những chiếc dù đèn. Trở lại km 69 đến km72 đường 10 rồi ngã ba Dân Chủ là bãi chứa bom của Mỹ.< Bữa ăn trưa tại đồn BP Cù Bai.
Đi ngược suối qua ngầm Dân Chủ sẽ đến khu vực có một số đơn vị đóng quân như E101, E74 vận tải rồi kho của E98 công binh, tiếp tục ngược suối có C449 TNXP, ngược lên chừng hơn một km là Đội điều trị của binh trạm 27.

< Đường 10 xuất phát từ Áng Sơn, Vạn Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình. và tại đây đường thống nhất 16A đi tiếp vào đường 9, Khe sanh.
Trong chiến tranh mặc dù trang bị vật tư kỹ thuật thiếu thốn, nhưng các bác sĩ, y tá, hộ lý đã hết lòng vì thương bệnh binh.
Cả tuyến đường từ km 34 vào km72 đường 10 rất nhiều những chứng tích của một thời chiến tranh. Cũng trên đoạn đường ấy rồi đường 16E có biết bao đồng đội, đồng chí đã nằm lại.
< Lên đèo Sa Mù.
Giờ đây đứng ở bên cạnh nhà bia tại ngã ba Dân Chủ nhìn lại đoạn dốc của đường 10 chúng tôi thấy rằng, chỉ có những người đã từng đi qua hoặc đã từng ở trên tuyến đường này trong những năm chiến tranh chống Mỹ, mới cảm nhận hết được những giá trị lịch sử của nó. Hơn bốn mươi năm trở lại nơi này, thời gian đã làm thay đổi nhiều, song không gian và khoảng cách vẫn còn đó, những di tích, chứng tích của một thời chiến tranh ác liệt không thể xóa nhòa.
< Cửa Khẩu quốc tế Lao Bảo.
Giá như những con đường ấy bây giờ dù không rải nhựa, hay đổ bê tông thênh thang, nhưng nó được gìn gữi để du khách thập phương có dịp qua đây, có thể phần nào cảm nhận được sự ác liệt thời chiến tranh, của hệ thống đường mòn HCM trên Trường Sơn. Đồng thời hiểu được giá trị mà thế hệ cha anh, đã xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ...
Cho tới bây giờ, mỗi khi đọc câu thơ của cố nhà Thơ Tố Hữu thì mới thấy thấm thía:
“Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa
Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình”.
Bùi Hoằng
Hà Bình-Hà Trung-Thanh Hóa
Du lịch, GO! Cảm ơn anh Hoằng.
Xem thêm:
Ký sự đường 10 - Kỳ 1: Con đường thủy chung
Ký sự đường 10 - Kỳ 2: Hang Đại tướng
Ký sự đường 10 - Kỳ 3: Lúa nước trên non
Ký sự đường 10 - Kỳ 4: Tiếp nối bản anh hùng ca
Ký sự đường 10 - Kỳ cuối: Thương lắm trẻ vùng cao
Một chuyến vượt đường Trường Sơn, nhánh Tây
< Cửa Khẩu quốc tế Lao Bảo.
Giá như những con đường ấy bây giờ dù không rải nhựa, hay đổ bê tông thênh thang, nhưng nó được gìn gữi để du khách thập phương có dịp qua đây, có thể phần nào cảm nhận được sự ác liệt thời chiến tranh, của hệ thống đường mòn HCM trên Trường Sơn. Đồng thời hiểu được giá trị mà thế hệ cha anh, đã xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ...
Cho tới bây giờ, mỗi khi đọc câu thơ của cố nhà Thơ Tố Hữu thì mới thấy thấm thía:
“Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa
Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình”.
Bùi Hoằng
Hà Bình-Hà Trung-Thanh Hóa
Du lịch, GO! Cảm ơn anh Hoằng.
Xem thêm:
Ký sự đường 10 - Kỳ 1: Con đường thủy chung
Ký sự đường 10 - Kỳ 2: Hang Đại tướng
Ký sự đường 10 - Kỳ 3: Lúa nước trên non
Ký sự đường 10 - Kỳ 4: Tiếp nối bản anh hùng ca
Ký sự đường 10 - Kỳ cuối: Thương lắm trẻ vùng cao
Một chuyến vượt đường Trường Sơn, nhánh Tây
Từ Mù Cang Chải đi Chế Tạo.
Con đường hẹp dài 70km nối từ Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái đến Mường La của Sơn La, xuyên qua ba ngọn núi và vô số khúc quanh được xem là một trong những con đường hiểm trở nhất vùng núi Tây Bắc và là mục tiêu chinh phục của dân du lịch bụi.
< Những con đường như thân rắn uốn mình quanh núi đồi.
Nếu như huyện Mù Cang Chải được coi là huyện nghèo nhất tỉnh Yên Bái thì Chế Tạo được xem như xã khó khăn nhất của huyện này. Con đường duy nhất từ trung tâm huyện Mù Cang Chải đến xã Chế Tạo dài hơn 35km nhưng quanh năm trơn trượt, rất khó đi. Cuộc sống của những người dân nơi đây gần như biệt lập với xã hội hiện đại, chủ yếu là tự cung tự cấp.
< Những con dốc lởm chởm đầy đất đá. Vậy nhưng may mà trời không mưa...
Xuất phát từ Mù Cang Chải đến bản Chế Tạo, bản xa xôi nhất của mảnh đất Yên Bái, ngay cả cánh xe ôm bản địa cũng lắc đầu ngán ngẩm.
Để đến được Chế Tạo, bạn sẽ phải vượt qua những con đường dốc dựng đứng. Con đường trơn trượt với những mảng đất sét trên những con đường khúc khuỷu đã khiến những cô gái ngồi sau nhiều lần phải nhảy xuống đẩy xe.
< Từ lưng chừng đèo có thể nhìn thấy toàn cảnh Mù Cang Chải phía xa. Mặc dù chỉ cách nơi này 35 km, địa danh Chế Tạo ít người vào ra vì đường đèo nguy hiểm và vắng vẻ.
Hiện nay, phần đầu trên đoạn đường ấy đã được trải bê tông nên việc đi lại của đồng bào có bớt khó khăn. Để làm đoạn đường ngắn này phải mất vài năm và cũng chỉ làm được vào mấy tháng mùa khô.
< Chặng đường qua bản Chế Tạo chỉ là khởi đầu cho những chuỗi khó khăn tiếp theo. Con đường với dốc nối dốc, xe sẽ luôn chạy ở số một và mỗi chiếc xe thi thoảng chỉ có thể mang trên lưng một người, người ngồi sau sẽ được mời xuống đi bộ.
Chặng đường còn lại như một chuyến đi “hành xác”. Những con dốc nền đất cao vời vợi, trơn trượt và nhầy nhụa vào những ngày cơn mưa rừng đi qua như muốn thử thách "tay lái lụa" của dân phượt...
< Qua bản Phú Váo, con đường nhỏ dần với một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực thẳm. Hai chục cây số không một bóng người. Thi thoảng lại bắt gặp những chiếc cổng tre đơn sơ chặn đường, ngăn không cho trâu bò qua lại.
... Xe máy về số mà vẫn phải gằn lên những tiếng giận dữ, bô bốc khói mù mịt. Rồi những đoạn đường đầy sỏi đá, chỉ còn cách hò nhau kẻ đẩy, người kéo, bánh xe quay tròn, chết dí trong những bùn đất vàng khè.
< Những điểm sạt đầu tiên bắt đầu cản trở và gây thêm khó khăn. Bốn xế hì hục khiêng từng chiếc xe máy qua những điểm sạt lở mà một bên là vách núi, bên kia là vực thẳm. Rất nhiều cây cổ thụ chặn ngang con đường hẹp khiến việc đi lại càng trở nên vất vả.
Tuy nhiên, trên cung đường khám phá rừng Chế Tạo sẽ mang lại những ấn tượng rất thú vị, mặc cho hiểm nguy luôn rình rập các tay lái...
< Từ những thửa ruộng bậc thang đẹp mê hồn tới những thác nước tung bọt trắng xóa và đâu đó tiếng suối róc rách mát lành tuôn chảy, gió của rừng đùa trên những tán cây cổ thụ vô tình tạo nên bản nhạc đầy mê hoặc.
Tựa như những thước phim ấn tượng, quang cảnh biến đổi liên tục trên chặng đường dài 35km ấy. Từ những thửa ruộng bậc thang đẹp mê hồn tới những thác nước tung bọt trắng xóa và đâu đó tiếng suối róc rách mát lành tuôn chảy, gió của rừng đùa trên những tán cây cổ thụ vô tình tạo nên bản nhạc đầy mê hoặc.
< Những thác nước mát lạnh với đoạn suối ngập, đá hộc lổn nhổn, mỗi chiếc xe lại tự mình tìm cách đi qua. Hỗ trợ nhau trên những con đường khó khăn, người đi trước đi qua chờ người đi sau. Cánh con gái ôm đồ lội bộ qua suối, cẩn thận để không làm ướt hết balo, máy ảnh.
Bên những con đường mảnh như sợi chỉ quanh co, uốn khúc trên các sườn đồi, sườn núi bạt ngàn sắc hoa đỗ quyên, hoa mua tím... và cả khu rừng nguyên sinh Chế Tạo đầy quyến rũ khi xe lướt qua rừng phong lá đỏ, hay vạt hoa trẩu trắng.
< Đôi lúc khung cảnh mở hai bên đường tuyệt đẹp. Đó là những lúc nghỉ nhịp để hồi sức. Để đi được cung đường khó này, bạn nên chuẩn bị xe thật tốt, mang đầy đủ dụng cụ sửa xe và các phụ tùng thay thế, mang đồ cần thiết đi rừng như dây thừng kéo xe, túi ngủ, đồ cứu thương cùng đồ ăn thức uống.
Nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, rừng Chế Tạo là một trong những khu rừng nguyên sinh đẹp bậc nhất với nhiều loài cây lá rộng, lá kim và thảm thực vật, động vật phong phú. Con đường nhỏ xuyên qua cánh rừng già, với những thân cây cổ thụ lừng lững dễ làm kẻ lữ hành muốn đi mà không muốn về.
Trong rừng, ấn tượng nhất là những cây sở già nở hoa rụng trắng cả lối đi đẹp đến ngỡ ngàng. Rồi ở một góc rừng, cây phong già buông lá đỏ rực trong nắng thu giống như một bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên mà không góc máy, thước phim nào có thể ghi lại được.
< Con đường Chế Tạo–Mường La nằm vắt xuyên qua 3 dãy núi dài hơn 70 km và chỉ có 4 bản trên toàn tuyến, 2 bản người Mông nằm phía Yên Bái và 2 bản người Thái nằm bên mạn Sơn La. Thường xuyên có những đoạn suối bắt buộc phải cùng nhau đưa từng phương tiện qua dòng nước xiết.
< Chặng đường khó khăn ghi dấu trên những bộ quần áo lấm lem, những đôi giày bết bẩn bùn. Những gương mặt đã thấm mệt nhưng rạng rỡ nụ cười chinh phục. Bản Kể Cả và bản Đông, hai bản của đồng bào người Thái nằm bên suối là nơi nghỉ ngơi và điểm cuối cùng để sang bờ bên kia, Mường La, Sơn La.
Qua bao bận lên đỉnh xuống thung rồi đâm xuyên rừng già, cũng vừa lúc xã Chế Tạo chào đón kẻ lữ khách bởi vạt nắng chiều vừa vụt tắt.
< Chế Tạo - Mường La là cung đường khó khăn bậc nhất của Tây Bắc nhưng là cung đường nhiều cư dân du lịch bụi muốn chinh phục, dù chỉ một lần. Bởi thế, nếu được đặt chân đến vùng đất sâu thẳm giữa hai tỉnh Yên Bái và Sơn La, bạn sẽ ngập tràn cảm giác tự hào đã vượt qua con đường khó khăn bậc nhất Việt Nam.
Trung tâm xã là một dãy nhà 2 tầng, một trạm y tế bé xíu và cách đó không xa là khu trường nội trú. Tất cả nằm lọt thỏm giữa màu xanh xám của bên núi, bên rừng và những thảm sương nhè nhẹ của buổi chiều nơi rẻo cao.

Những người Mông họ Giàng, họ Sùng, họ Hảng... ở Chế Tạo bao năm qua vẫn ngược dốc, ngược rừng đi tìm cuộc sống ấm no bằng sự cần cù và những trái tim tự do.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Sổ Tay Du Lịch, iHay.Thanhnien...
Phượt Mù Căng Chải
Chế Tạo: Một lần đi phượt
< Những con đường như thân rắn uốn mình quanh núi đồi.
Nếu như huyện Mù Cang Chải được coi là huyện nghèo nhất tỉnh Yên Bái thì Chế Tạo được xem như xã khó khăn nhất của huyện này. Con đường duy nhất từ trung tâm huyện Mù Cang Chải đến xã Chế Tạo dài hơn 35km nhưng quanh năm trơn trượt, rất khó đi. Cuộc sống của những người dân nơi đây gần như biệt lập với xã hội hiện đại, chủ yếu là tự cung tự cấp.
< Những con dốc lởm chởm đầy đất đá. Vậy nhưng may mà trời không mưa...
Xuất phát từ Mù Cang Chải đến bản Chế Tạo, bản xa xôi nhất của mảnh đất Yên Bái, ngay cả cánh xe ôm bản địa cũng lắc đầu ngán ngẩm.
Để đến được Chế Tạo, bạn sẽ phải vượt qua những con đường dốc dựng đứng. Con đường trơn trượt với những mảng đất sét trên những con đường khúc khuỷu đã khiến những cô gái ngồi sau nhiều lần phải nhảy xuống đẩy xe.
< Từ lưng chừng đèo có thể nhìn thấy toàn cảnh Mù Cang Chải phía xa. Mặc dù chỉ cách nơi này 35 km, địa danh Chế Tạo ít người vào ra vì đường đèo nguy hiểm và vắng vẻ.
Hiện nay, phần đầu trên đoạn đường ấy đã được trải bê tông nên việc đi lại của đồng bào có bớt khó khăn. Để làm đoạn đường ngắn này phải mất vài năm và cũng chỉ làm được vào mấy tháng mùa khô.
< Chặng đường qua bản Chế Tạo chỉ là khởi đầu cho những chuỗi khó khăn tiếp theo. Con đường với dốc nối dốc, xe sẽ luôn chạy ở số một và mỗi chiếc xe thi thoảng chỉ có thể mang trên lưng một người, người ngồi sau sẽ được mời xuống đi bộ.
Chặng đường còn lại như một chuyến đi “hành xác”. Những con dốc nền đất cao vời vợi, trơn trượt và nhầy nhụa vào những ngày cơn mưa rừng đi qua như muốn thử thách "tay lái lụa" của dân phượt...
< Qua bản Phú Váo, con đường nhỏ dần với một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực thẳm. Hai chục cây số không một bóng người. Thi thoảng lại bắt gặp những chiếc cổng tre đơn sơ chặn đường, ngăn không cho trâu bò qua lại.
... Xe máy về số mà vẫn phải gằn lên những tiếng giận dữ, bô bốc khói mù mịt. Rồi những đoạn đường đầy sỏi đá, chỉ còn cách hò nhau kẻ đẩy, người kéo, bánh xe quay tròn, chết dí trong những bùn đất vàng khè.
< Những điểm sạt đầu tiên bắt đầu cản trở và gây thêm khó khăn. Bốn xế hì hục khiêng từng chiếc xe máy qua những điểm sạt lở mà một bên là vách núi, bên kia là vực thẳm. Rất nhiều cây cổ thụ chặn ngang con đường hẹp khiến việc đi lại càng trở nên vất vả.
Tuy nhiên, trên cung đường khám phá rừng Chế Tạo sẽ mang lại những ấn tượng rất thú vị, mặc cho hiểm nguy luôn rình rập các tay lái...
< Từ những thửa ruộng bậc thang đẹp mê hồn tới những thác nước tung bọt trắng xóa và đâu đó tiếng suối róc rách mát lành tuôn chảy, gió của rừng đùa trên những tán cây cổ thụ vô tình tạo nên bản nhạc đầy mê hoặc.
Tựa như những thước phim ấn tượng, quang cảnh biến đổi liên tục trên chặng đường dài 35km ấy. Từ những thửa ruộng bậc thang đẹp mê hồn tới những thác nước tung bọt trắng xóa và đâu đó tiếng suối róc rách mát lành tuôn chảy, gió của rừng đùa trên những tán cây cổ thụ vô tình tạo nên bản nhạc đầy mê hoặc.
< Những thác nước mát lạnh với đoạn suối ngập, đá hộc lổn nhổn, mỗi chiếc xe lại tự mình tìm cách đi qua. Hỗ trợ nhau trên những con đường khó khăn, người đi trước đi qua chờ người đi sau. Cánh con gái ôm đồ lội bộ qua suối, cẩn thận để không làm ướt hết balo, máy ảnh.
Bên những con đường mảnh như sợi chỉ quanh co, uốn khúc trên các sườn đồi, sườn núi bạt ngàn sắc hoa đỗ quyên, hoa mua tím... và cả khu rừng nguyên sinh Chế Tạo đầy quyến rũ khi xe lướt qua rừng phong lá đỏ, hay vạt hoa trẩu trắng.
< Đôi lúc khung cảnh mở hai bên đường tuyệt đẹp. Đó là những lúc nghỉ nhịp để hồi sức. Để đi được cung đường khó này, bạn nên chuẩn bị xe thật tốt, mang đầy đủ dụng cụ sửa xe và các phụ tùng thay thế, mang đồ cần thiết đi rừng như dây thừng kéo xe, túi ngủ, đồ cứu thương cùng đồ ăn thức uống.
Nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, rừng Chế Tạo là một trong những khu rừng nguyên sinh đẹp bậc nhất với nhiều loài cây lá rộng, lá kim và thảm thực vật, động vật phong phú. Con đường nhỏ xuyên qua cánh rừng già, với những thân cây cổ thụ lừng lững dễ làm kẻ lữ hành muốn đi mà không muốn về.Trong rừng, ấn tượng nhất là những cây sở già nở hoa rụng trắng cả lối đi đẹp đến ngỡ ngàng. Rồi ở một góc rừng, cây phong già buông lá đỏ rực trong nắng thu giống như một bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên mà không góc máy, thước phim nào có thể ghi lại được.
< Con đường Chế Tạo–Mường La nằm vắt xuyên qua 3 dãy núi dài hơn 70 km và chỉ có 4 bản trên toàn tuyến, 2 bản người Mông nằm phía Yên Bái và 2 bản người Thái nằm bên mạn Sơn La. Thường xuyên có những đoạn suối bắt buộc phải cùng nhau đưa từng phương tiện qua dòng nước xiết.
< Chặng đường khó khăn ghi dấu trên những bộ quần áo lấm lem, những đôi giày bết bẩn bùn. Những gương mặt đã thấm mệt nhưng rạng rỡ nụ cười chinh phục. Bản Kể Cả và bản Đông, hai bản của đồng bào người Thái nằm bên suối là nơi nghỉ ngơi và điểm cuối cùng để sang bờ bên kia, Mường La, Sơn La.
Qua bao bận lên đỉnh xuống thung rồi đâm xuyên rừng già, cũng vừa lúc xã Chế Tạo chào đón kẻ lữ khách bởi vạt nắng chiều vừa vụt tắt.
< Chế Tạo - Mường La là cung đường khó khăn bậc nhất của Tây Bắc nhưng là cung đường nhiều cư dân du lịch bụi muốn chinh phục, dù chỉ một lần. Bởi thế, nếu được đặt chân đến vùng đất sâu thẳm giữa hai tỉnh Yên Bái và Sơn La, bạn sẽ ngập tràn cảm giác tự hào đã vượt qua con đường khó khăn bậc nhất Việt Nam.
Trung tâm xã là một dãy nhà 2 tầng, một trạm y tế bé xíu và cách đó không xa là khu trường nội trú. Tất cả nằm lọt thỏm giữa màu xanh xám của bên núi, bên rừng và những thảm sương nhè nhẹ của buổi chiều nơi rẻo cao.

Những người Mông họ Giàng, họ Sùng, họ Hảng... ở Chế Tạo bao năm qua vẫn ngược dốc, ngược rừng đi tìm cuộc sống ấm no bằng sự cần cù và những trái tim tự do.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Sổ Tay Du Lịch, iHay.Thanhnien...
Phượt Mù Căng Chải
Chế Tạo: Một lần đi phượt
Popular Posts
-
H à Giang có rất nhiều chợ: chợ Phố Cáo, chợ Phó Bảng, chợ Sủng Là, chợ Lũng Phìn, chợ Ma Lé, chợ Đồng Văn, chợ Mèo Vạc, chợ Sà Phìn… Đa phầ...
-
C hùa Vạn Đức tọa lạc số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh). Chùa do HT.Thích Trí Tịnh, đời thứ 41 dòng t...
-
(Metinfo) - A i cũng biết khổ qua nguyên trái hầm thịt nạc bằm hoặc cá thác lác quết nước muối, khổ qua xắt lát xào thịt bò , khổ qua xắt lá...
-
(QN online) - C ùng với za’ră (thịt thọc ống), aví cuốt (bánh sừng trâu), ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc n...
-
G iữa nhịp sống hối hả và ồn ào của TP. Hồ Chí Minh, nếu bạn bước chân vào nơi rợp bóng cây, lộng gió và nghe tiếng chim hót sẽ là một niềm ...
-
(iHay) - T hị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên nằm giữa 2 thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và Tuy Hòa (Phú Yên). Có lẽ do nằm trong “vùng trũng” g...
-
(CTTĐTTTH) - A n Định Cung không chỉ nổi tiếng là một công trình đẹp của cung đình Huế mà nó còn là nơi chứng kiến nhiều nỗi thăng trầm của ...
-
(Daidoanket) - N gược dòng Long Đại, con thuyền đưa chúng tôi đi ngang qua các thôn, bản với những tên gọi dân gian như Ổ Gà, Lùi, Cập, Chuố...
-
A n Giang là tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam với một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên. Đây là tỉnh có dân số đông n...
-
K hu tưởng niệm các vua Hùng là một công trình thuộc khu Cổ Đại của dự án Công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc. Khu tưởng niệm tọa lạc trên ...














































