Home » Posts filed under Xem cho biết
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem cho biết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem cho biết. Hiển thị tất cả bài đăng
Ốc đá non ngàn
(QN online) - Cùng với za’ră (thịt thọc ống), aví cuốt (bánh sừng trâu), ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc người vùng cao giữa đại ngàn Trường Sơn.
< Đặc sản ốc đá vùng cao.
Để có món ốc đặc sản đãi khách, đồng bào thường cùng nhau lặn lội vào trong rừng sâu, đi dọc các con suối để mò ốc. Gọi là ốc đá, bởi chúng thường bám dưới những hốc đá nằm sâu trong vũng nước, khe suối. Nhiều nhất là sau các đợt lũ. Không chỉ bám dưới hốc đá, ốc nhiều nhất ở dưới lớp rêu nước. Chỉ cần hất nhẹ đám rêu xanh, tha hồ lượm ốc vào giỏ, mang về làm thức ăn hoặc bán.
Có nhiều cách chế biến ốc như luộc chín, tách thịt ốc ra khỏi vỏ nấu cháo hay xào măng hoặc xào ốc trực tiếp với sả, ớt, gừng,… cùng vài gia vị khác, nhưng trước hết phải được tẩy nhờn bằng muối ăn, chặt đuôi ốc. Ở miền núi, ốc đá thường dùng làm mồi uống với rượu cần, tà vạt, tr’đin ngon không gì bằng!
Ngày trước, ốc nhiều, chỉ cần ngụp lặn khoảng hơn 2 tiếng đồng hồ, một người có thể mang về vài ký ốc. Còn giờ đây, ốc đá cạn dần bởi môi trường bị tàn phá. Con suối Pho ngày xưa trẻ thơ tôi theo những chiều mò ốc chỉ còn là một bãi cát khô cằn hoặc là một vũng nước đầy rác thải. Phía thượng nguồn một vài con sông lớn như sông R’lang, A Vương,…, ốc cũng không còn nhiều. Nhiều khúc sông, những bãi đá đứng lô nhô trên một bãi bồi trơ đáy. Bởi vậy, lên vùng cao được tiếp đãi bằng những món ốc đá xào sả mới thấy giá trị tình cảm và tấm lòng của người dân miền ngược dành cho những vị khách của mình.
Anh Tạ Vĩnh Yên, cán bộ tỉnh đoàn nói mỗi món ăn có hương vị đặc trưng khác nhau là cả tấm lòng của đồng bào dành cho khách quý của buôn làng, nhưng thích nhất vẫn là món ốc đá. “Vị cay của sả thấm trong thịt ốc chắc, béo, ăn rất tuyệt” - anh Yên nói.
Xem thêm >
Theo Lăng A Cúi (báo Quảng Nam)
< Ốc đá vừa bắt từ suối.
- Để có vài kg ốc này không dễ. Người ta phải huy động cả nhà ra suối quần thảo từ chiều cho đến tối mịt bởi ban ngày ốc chui trốn trong các hốc đá sâu hoắm và chỉ xuất hiện kiếm ăn khi mặt trời bắt đầu xuống núi. Những con ốc này mình dài từ 3 - 7cm, đen trũi chậm chạp bám vào những tảng đá ven bờ suối ăn rong rêu. Ốc đá bắt được mang về chà rửa sạch, chặt phần đuôi để sau khi nấu chín dùng miệng hút cho dễ.
Khử dầu với hành, tỏi, sả băm nhỏ trước khi cho ốc vào nồi, sau đó khuấy đều và tiếp tục cho ớt giã nhuyễn, đường, mắm, muối vừa ăn, để lửa liu riu cho thịt ốc thấm. Thịt ốc đá ngọt, giòn cộng với vị béo của dầu hòa quyện cùng tiếng xuýt xoa nhè nhẹ do vị ớt cay cay, mang lại cảm xúc khó tả cho những ai được thưởng thức món ốc đá này.
Rau ranh ốc đá
Du lịch, GO!
< Đặc sản ốc đá vùng cao.
Để có món ốc đặc sản đãi khách, đồng bào thường cùng nhau lặn lội vào trong rừng sâu, đi dọc các con suối để mò ốc. Gọi là ốc đá, bởi chúng thường bám dưới những hốc đá nằm sâu trong vũng nước, khe suối. Nhiều nhất là sau các đợt lũ. Không chỉ bám dưới hốc đá, ốc nhiều nhất ở dưới lớp rêu nước. Chỉ cần hất nhẹ đám rêu xanh, tha hồ lượm ốc vào giỏ, mang về làm thức ăn hoặc bán.
Có nhiều cách chế biến ốc như luộc chín, tách thịt ốc ra khỏi vỏ nấu cháo hay xào măng hoặc xào ốc trực tiếp với sả, ớt, gừng,… cùng vài gia vị khác, nhưng trước hết phải được tẩy nhờn bằng muối ăn, chặt đuôi ốc. Ở miền núi, ốc đá thường dùng làm mồi uống với rượu cần, tà vạt, tr’đin ngon không gì bằng!
Ngày trước, ốc nhiều, chỉ cần ngụp lặn khoảng hơn 2 tiếng đồng hồ, một người có thể mang về vài ký ốc. Còn giờ đây, ốc đá cạn dần bởi môi trường bị tàn phá. Con suối Pho ngày xưa trẻ thơ tôi theo những chiều mò ốc chỉ còn là một bãi cát khô cằn hoặc là một vũng nước đầy rác thải. Phía thượng nguồn một vài con sông lớn như sông R’lang, A Vương,…, ốc cũng không còn nhiều. Nhiều khúc sông, những bãi đá đứng lô nhô trên một bãi bồi trơ đáy. Bởi vậy, lên vùng cao được tiếp đãi bằng những món ốc đá xào sả mới thấy giá trị tình cảm và tấm lòng của người dân miền ngược dành cho những vị khách của mình.
Anh Tạ Vĩnh Yên, cán bộ tỉnh đoàn nói mỗi món ăn có hương vị đặc trưng khác nhau là cả tấm lòng của đồng bào dành cho khách quý của buôn làng, nhưng thích nhất vẫn là món ốc đá. “Vị cay của sả thấm trong thịt ốc chắc, béo, ăn rất tuyệt” - anh Yên nói.
Xem thêm >
Theo Lăng A Cúi (báo Quảng Nam)
< Ốc đá vừa bắt từ suối.
- Để có vài kg ốc này không dễ. Người ta phải huy động cả nhà ra suối quần thảo từ chiều cho đến tối mịt bởi ban ngày ốc chui trốn trong các hốc đá sâu hoắm và chỉ xuất hiện kiếm ăn khi mặt trời bắt đầu xuống núi. Những con ốc này mình dài từ 3 - 7cm, đen trũi chậm chạp bám vào những tảng đá ven bờ suối ăn rong rêu. Ốc đá bắt được mang về chà rửa sạch, chặt phần đuôi để sau khi nấu chín dùng miệng hút cho dễ.
Khử dầu với hành, tỏi, sả băm nhỏ trước khi cho ốc vào nồi, sau đó khuấy đều và tiếp tục cho ớt giã nhuyễn, đường, mắm, muối vừa ăn, để lửa liu riu cho thịt ốc thấm. Thịt ốc đá ngọt, giòn cộng với vị béo của dầu hòa quyện cùng tiếng xuýt xoa nhè nhẹ do vị ớt cay cay, mang lại cảm xúc khó tả cho những ai được thưởng thức món ốc đá này.
Rau ranh ốc đá
Du lịch, GO!
Phòng tránh sấm sét khi phượt
Ở nước ta, thời kỳ mưa dông kèm sấm sét hoạt động mạnh nhất từ tháng 4 đến tháng 10. Đa phần sét xuất hiện chủ yếu vào buổi chiều từ 14h đến 20h. Thường thì cơn dông kéo đến rất nhanh trong vòng 15 phút và di chuyển với vận tốc 40km/giờ hay hơn nữa.
Khi đang ở nơi không an toàn thì cần phải để ý đến các dấu hiệu của dông như mây đen, khí lạnh, gió. Ta sẽ thực hiện theo nguyên tắc nhìn và nghe: Lúc sét xảy ra, thường thấy tia chớp lóe lên ở điểm nào đó trên bầu trời, sau đó là tiếng sấm kèm theo. Nếu khoảng thời gian giữa lúc có chớp đến lúc nghe thấy sấm càng ngắn thì sét sẽ xuất hiện ở vị trí càng gần ta, tức là mức độ nguy hiểm tăng. Khi đó cần nhanh chóng tìm cách tránh sét.
< Sấm sét có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào.
Ta có thể chia khoảng thời gian ước tính được cho 3 sẽ tính được khoảng cách đến tia sét. Ví dụ nếu đếm được 3 giây thì sét cách vị trí đứng là 3/3= 1km. Nếu như khoảng thời gian đếm được nhỏ hơn 30 giây thì bạn đã nằm trong tầm ngắm của tia sét rồi và phải cẩn thận.
Nếu thời gian này nhỏ hơn 20 giây thì phải di chuyển đến nơi an toàn hơn. Khi nghe thấy tiếng sấm đầu tiên bất kể là gì cũng cần phải thấy nguy hiểm đã đến. Trong nhiều trường hợp, sét có thể đánh cách xa nơi có mưa tới 15 ~ 20km.
+ Khi ở ngoài đồng trống, trên đèo:
Người thích lượt phượt khắp nơi rất thường gặp trường hợp này và sẽ ứng phó theo cách nào?
- Tuyệt đối không dùng cây cối cao làm chỗ trú mưa, tránh các khu vực cao hơn xung quanh, tránh xa các vật dụng kim loại như xe đạp, xe máy, hàng rào sắt - thậm chí chân máy ảnh bạn đeo trên lưng cũng có thể tạo nguy hiểm vì nó trở thành cột thu lôi. Cần tránh luôn cả việc gọi điện thoại giữa lúc giông bão kèm sấm sét.
Ô dù che mưa khá tốt nhưng bản thân nó cũng chính là vật thu hút sét, khi giương dù lại cao hơn người đang sử dụng: Vậy nên giữa cái ướt và sự sống còn: bạn chọn cái nào?
- Gắng tìm chỗ khô ráo, nếu xung quanh có cây cao hơn thì nên tìm chỗ thấp nhất để trú. Đảm bảo thân người ở vị trí thấp nhất - tay ôm cổ, phần tiếp xúc của người với mặt đất càng ít càng tốt. Nếu có thể thì nên nhón chân nhưng không được nằm xuống đất. Đặc biệt, không đứng thành nhóm nhiều người gần nhau rất dễ thu hút sét. Áo mưa hay nón bảo hiểm nhựa là vật cách điện khá tốt nếu bạn trùm và mang trên mình.
- Nếu bạn đang bơi hoặc đi thuyền trên sông nước... thì cần lên bờ và tìm chỗ trú ẩn ngay lập tức. Tránh xa các vật cao, ra ngay khỏi những nơi nhiều nước như bãi biển, hồ... Hãy nhớ là nước dẫn điện rất tốt, do vậy mặt nước không an toàn dù nó thấp hơn đỉnh đá gần bên. Các vùng đỉnh núi hay sườn núi nhô cao cũng rất nguy hiểm, lập tức rời xa các khu vực này khi có nguy cơ. Nếu ở trong rừng thì tìm những nơi cây thấp hơn và thưa để tránh.
- Nếu đang chạy xe gắn máy trên đèo, cần nhanh chóng tìm và dừng xe phía bờ taluy dương có khảm đá hay bê tông: đỉnh taluy và mép ngoài mặt đường sẽ dễ hút sét hơn là góc âm taluy nơi bạn trú tạm. Tránh xa chiếc xe vì nó bằng kim loại, Không trú trong các khe thoát nước vì có thể gặp lũ cuốn dù đây là nơi tránh sét tốt.
- Nếu như bạn cảm thấy tóc bị dựng lên, giống cảm giác có điện khi sờ tay trước mặt tivi thì điều đó có nghĩa là có thể bị sét đánh bất cứ lúc nào. Khi đó cần lập tức cúi ngồi xuống và lấy tay che tai, không nằm xuống đất hay đặt tay lên đất.
+ Khi ở ngoài đường:
- Nếu bạn nghe thấy tiếng sấm, điều này có nghĩa là bạn đang nằm trong vùng sét đánh. Nhanh chóng tìm chỗ trú ẩn trong các ngôi nhà, tòa nhà lớn, nơi mà các hệ thống dây điện, ống nước sẽ trực tiếp hấp thu điện tích của sét. Không nên trú ẩn dưới những cây cao vì sét luôn có xu hướng đánh vào những cây cao nhất. Không có nơi nào ở ngoài trời an toàn trong suốt thời gian mưa bão có kèm theo sấm sét. Không rời khỏi nơi trú ẩn ít nhất 20 phút kể từ thời điểm tiếng sét kết thúc.
- Nếu xung quanh không có tòa nhà nào, bạn cần nhanh chóng ngồi xổm trên các ngón chân, dùng tay bịt tai lại và gục đầu trên đầu gối. Điều này giúp cho bạn trở thành mục tiêu nhỏ nhất có thể và giảm thiểu diện tích tiếp xúc với mặt đất. Không nên nằm duỗi thẳng trên mặt đất vì sẽ làm tăng lượng điện tích truyền xuống đất qua cơ thể.
- Nếu bạn đang ở trong xe hơi, xe đò, tàu hỏa hay tàu cao tốc: khi gặp sấm sét cần tránh tuyệt đối không nhoài người ra cửa sổ, không chạm đến vỏ bọc kim loại của vật thể mà bạn đang ở trong. Trong khung sắt sườn, bạn sẽ được an toàn tuyệt đối.
- Nếu phát hiện có nạn nhân bị sét đánh, lập tức gọi điện cho cấp cứu. Nạn nhân không còn mang điện tích, không gây nguy hại đến bạn - cần nhanh chóng kiểm tra tình trạng hô hấp, nhịp tim, mạch đập; nếu không còn hoạt động thì áp dụng các biện pháp hô hấp nhân tạo, xoa bóp tim ngoài lồng ngực rồi chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất bởi nếu được cấp cứu trong vòng 7 phút sau khi bị sét đánh thì có đến 90% trường hợp được cứu sống.
+ Khi ở trong nhà:
Ở trong nhà đang lúc mưa giông sấm sét chưa hẳn là an toàn tuyệt đối đâu. Đã có nhiều trường hợp thương tật nặng hoặc hỏng hóc đồ dùng trong trường hợp này, nhất là khi gặp sét hòn. Vậy bạn nên làm gì?
- Tránh xa các cửa sổ và cửa ra vào.
- Rút phích cắm các thiết bị điện tử ra khỏi ổ điện, như máy vi tính, tivi và tắt máy lạnh. Tránh xa điện thoại cố định có dây, máy vi tính và các thiết bị điện tử khác mà bạn có thể phải tiếp xúc trực tiếp với nguồn điện hoặc hệ thống ống nước.
- Không nên rửa tay, tắm rửa, giặt giũ hoặc rửa bát khi có sét vì sét có thể tấn công vào hệ thống đường ống nước nhà bạn.
Cái họa từ sấm sét xẩy ra hàng năm gây hại khá nhiều người, nó bất chợt và rất nguy hiểm vì có thể xuất hiện bất cứ nơi nào, không chừa một ai. Vậy nên biết rõ những việc cần làm khi có sét đánh sẽ giúp bạn và gia đình bạn được an toàn, tránh những thiệt hại và thương vong đáng tiếc.
Chúc bạn an toàn trong mọi trường hợp, nhất là lúc trên đường phượt trong mùa mưa bão.
Điền Gia Dũng - Du lịch, GO!
Khi đang ở nơi không an toàn thì cần phải để ý đến các dấu hiệu của dông như mây đen, khí lạnh, gió. Ta sẽ thực hiện theo nguyên tắc nhìn và nghe: Lúc sét xảy ra, thường thấy tia chớp lóe lên ở điểm nào đó trên bầu trời, sau đó là tiếng sấm kèm theo. Nếu khoảng thời gian giữa lúc có chớp đến lúc nghe thấy sấm càng ngắn thì sét sẽ xuất hiện ở vị trí càng gần ta, tức là mức độ nguy hiểm tăng. Khi đó cần nhanh chóng tìm cách tránh sét.
< Sấm sét có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào.
Ta có thể chia khoảng thời gian ước tính được cho 3 sẽ tính được khoảng cách đến tia sét. Ví dụ nếu đếm được 3 giây thì sét cách vị trí đứng là 3/3= 1km. Nếu như khoảng thời gian đếm được nhỏ hơn 30 giây thì bạn đã nằm trong tầm ngắm của tia sét rồi và phải cẩn thận.
Nếu thời gian này nhỏ hơn 20 giây thì phải di chuyển đến nơi an toàn hơn. Khi nghe thấy tiếng sấm đầu tiên bất kể là gì cũng cần phải thấy nguy hiểm đã đến. Trong nhiều trường hợp, sét có thể đánh cách xa nơi có mưa tới 15 ~ 20km.
+ Khi ở ngoài đồng trống, trên đèo:
Người thích lượt phượt khắp nơi rất thường gặp trường hợp này và sẽ ứng phó theo cách nào?
- Tuyệt đối không dùng cây cối cao làm chỗ trú mưa, tránh các khu vực cao hơn xung quanh, tránh xa các vật dụng kim loại như xe đạp, xe máy, hàng rào sắt - thậm chí chân máy ảnh bạn đeo trên lưng cũng có thể tạo nguy hiểm vì nó trở thành cột thu lôi. Cần tránh luôn cả việc gọi điện thoại giữa lúc giông bão kèm sấm sét.Ô dù che mưa khá tốt nhưng bản thân nó cũng chính là vật thu hút sét, khi giương dù lại cao hơn người đang sử dụng: Vậy nên giữa cái ướt và sự sống còn: bạn chọn cái nào?
- Gắng tìm chỗ khô ráo, nếu xung quanh có cây cao hơn thì nên tìm chỗ thấp nhất để trú. Đảm bảo thân người ở vị trí thấp nhất - tay ôm cổ, phần tiếp xúc của người với mặt đất càng ít càng tốt. Nếu có thể thì nên nhón chân nhưng không được nằm xuống đất. Đặc biệt, không đứng thành nhóm nhiều người gần nhau rất dễ thu hút sét. Áo mưa hay nón bảo hiểm nhựa là vật cách điện khá tốt nếu bạn trùm và mang trên mình.- Nếu bạn đang bơi hoặc đi thuyền trên sông nước... thì cần lên bờ và tìm chỗ trú ẩn ngay lập tức. Tránh xa các vật cao, ra ngay khỏi những nơi nhiều nước như bãi biển, hồ... Hãy nhớ là nước dẫn điện rất tốt, do vậy mặt nước không an toàn dù nó thấp hơn đỉnh đá gần bên. Các vùng đỉnh núi hay sườn núi nhô cao cũng rất nguy hiểm, lập tức rời xa các khu vực này khi có nguy cơ. Nếu ở trong rừng thì tìm những nơi cây thấp hơn và thưa để tránh.
- Nếu đang chạy xe gắn máy trên đèo, cần nhanh chóng tìm và dừng xe phía bờ taluy dương có khảm đá hay bê tông: đỉnh taluy và mép ngoài mặt đường sẽ dễ hút sét hơn là góc âm taluy nơi bạn trú tạm. Tránh xa chiếc xe vì nó bằng kim loại, Không trú trong các khe thoát nước vì có thể gặp lũ cuốn dù đây là nơi tránh sét tốt.
- Nếu như bạn cảm thấy tóc bị dựng lên, giống cảm giác có điện khi sờ tay trước mặt tivi thì điều đó có nghĩa là có thể bị sét đánh bất cứ lúc nào. Khi đó cần lập tức cúi ngồi xuống và lấy tay che tai, không nằm xuống đất hay đặt tay lên đất.
+ Khi ở ngoài đường:
- Nếu bạn nghe thấy tiếng sấm, điều này có nghĩa là bạn đang nằm trong vùng sét đánh. Nhanh chóng tìm chỗ trú ẩn trong các ngôi nhà, tòa nhà lớn, nơi mà các hệ thống dây điện, ống nước sẽ trực tiếp hấp thu điện tích của sét. Không nên trú ẩn dưới những cây cao vì sét luôn có xu hướng đánh vào những cây cao nhất. Không có nơi nào ở ngoài trời an toàn trong suốt thời gian mưa bão có kèm theo sấm sét. Không rời khỏi nơi trú ẩn ít nhất 20 phút kể từ thời điểm tiếng sét kết thúc.
- Nếu xung quanh không có tòa nhà nào, bạn cần nhanh chóng ngồi xổm trên các ngón chân, dùng tay bịt tai lại và gục đầu trên đầu gối. Điều này giúp cho bạn trở thành mục tiêu nhỏ nhất có thể và giảm thiểu diện tích tiếp xúc với mặt đất. Không nên nằm duỗi thẳng trên mặt đất vì sẽ làm tăng lượng điện tích truyền xuống đất qua cơ thể.
- Nếu bạn đang ở trong xe hơi, xe đò, tàu hỏa hay tàu cao tốc: khi gặp sấm sét cần tránh tuyệt đối không nhoài người ra cửa sổ, không chạm đến vỏ bọc kim loại của vật thể mà bạn đang ở trong. Trong khung sắt sườn, bạn sẽ được an toàn tuyệt đối.
- Nếu phát hiện có nạn nhân bị sét đánh, lập tức gọi điện cho cấp cứu. Nạn nhân không còn mang điện tích, không gây nguy hại đến bạn - cần nhanh chóng kiểm tra tình trạng hô hấp, nhịp tim, mạch đập; nếu không còn hoạt động thì áp dụng các biện pháp hô hấp nhân tạo, xoa bóp tim ngoài lồng ngực rồi chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất bởi nếu được cấp cứu trong vòng 7 phút sau khi bị sét đánh thì có đến 90% trường hợp được cứu sống.
+ Khi ở trong nhà:
Ở trong nhà đang lúc mưa giông sấm sét chưa hẳn là an toàn tuyệt đối đâu. Đã có nhiều trường hợp thương tật nặng hoặc hỏng hóc đồ dùng trong trường hợp này, nhất là khi gặp sét hòn. Vậy bạn nên làm gì?
- Tránh xa các cửa sổ và cửa ra vào.
- Rút phích cắm các thiết bị điện tử ra khỏi ổ điện, như máy vi tính, tivi và tắt máy lạnh. Tránh xa điện thoại cố định có dây, máy vi tính và các thiết bị điện tử khác mà bạn có thể phải tiếp xúc trực tiếp với nguồn điện hoặc hệ thống ống nước.
- Không nên rửa tay, tắm rửa, giặt giũ hoặc rửa bát khi có sét vì sét có thể tấn công vào hệ thống đường ống nước nhà bạn.
Cái họa từ sấm sét xẩy ra hàng năm gây hại khá nhiều người, nó bất chợt và rất nguy hiểm vì có thể xuất hiện bất cứ nơi nào, không chừa một ai. Vậy nên biết rõ những việc cần làm khi có sét đánh sẽ giúp bạn và gia đình bạn được an toàn, tránh những thiệt hại và thương vong đáng tiếc.
Chúc bạn an toàn trong mọi trường hợp, nhất là lúc trên đường phượt trong mùa mưa bão.
Điền Gia Dũng - Du lịch, GO!
Na - sản vật đất ải Chi Lăng
(TTO) - Không chỉ được biết đến bởi dấu ấn lịch sử lừng lẫy, Chi Lăng (Lạng Sơn) còn được du khách nhớ đến bởi những thương hiệu trái cây nổi tiếng.
< Ải Chi Lăng và những hàng bày bán na bên đường.
Mùa này, nếu có dịp về vùng đất ải chắc chắn bạn sẽ được thưởng thức hương vị ngọt ngào của na (mãng cầu), sản vật nổi tiếng vùng đất này. Những ngày này nếu có dịp đi qua Chi Lăng bạn sẽ bắt gặp hình ảnh người dân rộn ràng chuẩn bị cho mùa thu hoạch na, loại quả nổi tiếng của vùng đất này.
Những xe ôtô chở đầy na vùng núi tấp nập về miền xuôi bỏ mối cho các thương lái. Rất nhiều nơi trồng na nhưng hương vị na ở đây khác hẳn, có thể ngon nhất và cũng là "vựa" na lớn nhất cả nước.
Thú vị nhất với khách lãng du là được tận mắt nhìn thấy cách trồng và thu hoạch na. Những cây na trồng trên núi đá, nhiều nơi cao đến 200m nhưng vẫn um tùm, xanh tốt. Khi thu hoạch bà con nơi đây dùng ròng rọc cẩn thận đưa từng sọt na xuống.
Mọc lên từ những núi đá cao, nghèo chất dinh dưỡng nhưng hương vị na nơi đây hiếm nơi nào sánh bằng. Những cây na cao cỡ 2-5m, quả trĩu nặng trên cành, to tròn, mắt to, căng đều... trông thật thích mắt.
Tháng 7 âm lịch là mùa thu hoạch na rộ, đây cũng là thời điểm na to và ngon nhất. Na thường được phân thành hai loại dai và bở. Na dai có ưu điểm ngọt, để được lâu, không dễ nát, dễ bóc vỏ, múi na nhằn dễ tróc ra khỏi hột và múi cũng dai hơn.
Quả na dai có vỏ mềm, màu xanh, thịt trắng lại ít hạt. Thêm vào đó, na dai được ưa chuộng hơn bởi mùi thơm và vị ngọt sắc, nổi bật hơn so với na bở. Tuy nhiên, mỗi người lại có một cách thưởng thức khác nhau, người thích na dai, người thích vị ngọt nhẹ của na bở.
Đến với Chi Lăng bạn sẽ được thưởng thức cả hai hương vị đặc biệt đó, ở đây có hai khu vực trồng na nổi tiếng: na bở ở khu vực thị trấn Đồng Mỏ và na dai khu vực Đồng Bành. Na ở đây quả to, nhiều thịt, ít hạt và thơm ngon, thưởng thức một lần bạn sẽ nhớ mãi. Nhẹ nhàng bóc vỏ, tách đôi quả na sẽ thấy lớp cơm trắng ngần hiện ra ngon lành. Múi na dày thịt, hạt nhỏ màu nâu sậm, thử cắn một miếng sẽ cảm nhận vị ngọt đậm đà lan tỏa khắp miệng.
Nếu có dịp khám phá Lạng Sơn mùa này, các bạn nhớ qua cửa ải Chi Lăng để tìm về với những chiến công lịch sử, thưởng thức đặc sản của vùng đất này, và đừng quên lựa những trái na to, thơm ngon mang hương vị của nắng gió cùng tình cảm của con người nơi đây về làm quà cho bạn bè, người thân.
Xem thêm >
Theo Hoàng Hân (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
< Ải Chi Lăng và những hàng bày bán na bên đường.
Mùa này, nếu có dịp về vùng đất ải chắc chắn bạn sẽ được thưởng thức hương vị ngọt ngào của na (mãng cầu), sản vật nổi tiếng vùng đất này. Những ngày này nếu có dịp đi qua Chi Lăng bạn sẽ bắt gặp hình ảnh người dân rộn ràng chuẩn bị cho mùa thu hoạch na, loại quả nổi tiếng của vùng đất này.
Những xe ôtô chở đầy na vùng núi tấp nập về miền xuôi bỏ mối cho các thương lái. Rất nhiều nơi trồng na nhưng hương vị na ở đây khác hẳn, có thể ngon nhất và cũng là "vựa" na lớn nhất cả nước.
Thú vị nhất với khách lãng du là được tận mắt nhìn thấy cách trồng và thu hoạch na. Những cây na trồng trên núi đá, nhiều nơi cao đến 200m nhưng vẫn um tùm, xanh tốt. Khi thu hoạch bà con nơi đây dùng ròng rọc cẩn thận đưa từng sọt na xuống.
Mọc lên từ những núi đá cao, nghèo chất dinh dưỡng nhưng hương vị na nơi đây hiếm nơi nào sánh bằng. Những cây na cao cỡ 2-5m, quả trĩu nặng trên cành, to tròn, mắt to, căng đều... trông thật thích mắt.
Tháng 7 âm lịch là mùa thu hoạch na rộ, đây cũng là thời điểm na to và ngon nhất. Na thường được phân thành hai loại dai và bở. Na dai có ưu điểm ngọt, để được lâu, không dễ nát, dễ bóc vỏ, múi na nhằn dễ tróc ra khỏi hột và múi cũng dai hơn.
Quả na dai có vỏ mềm, màu xanh, thịt trắng lại ít hạt. Thêm vào đó, na dai được ưa chuộng hơn bởi mùi thơm và vị ngọt sắc, nổi bật hơn so với na bở. Tuy nhiên, mỗi người lại có một cách thưởng thức khác nhau, người thích na dai, người thích vị ngọt nhẹ của na bở.
Đến với Chi Lăng bạn sẽ được thưởng thức cả hai hương vị đặc biệt đó, ở đây có hai khu vực trồng na nổi tiếng: na bở ở khu vực thị trấn Đồng Mỏ và na dai khu vực Đồng Bành. Na ở đây quả to, nhiều thịt, ít hạt và thơm ngon, thưởng thức một lần bạn sẽ nhớ mãi. Nhẹ nhàng bóc vỏ, tách đôi quả na sẽ thấy lớp cơm trắng ngần hiện ra ngon lành. Múi na dày thịt, hạt nhỏ màu nâu sậm, thử cắn một miếng sẽ cảm nhận vị ngọt đậm đà lan tỏa khắp miệng.
Nếu có dịp khám phá Lạng Sơn mùa này, các bạn nhớ qua cửa ải Chi Lăng để tìm về với những chiến công lịch sử, thưởng thức đặc sản của vùng đất này, và đừng quên lựa những trái na to, thơm ngon mang hương vị của nắng gió cùng tình cảm của con người nơi đây về làm quà cho bạn bè, người thân.
Xem thêm >
Theo Hoàng Hân (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
3 suối cá thần tại Thanh Hóa
Suối Cá thần là tên gọi của một số dòng suối ở miền núi phía tây tỉnh Thanh Hoá, nơi có những đàn cá tập trung sinh sống với mật độ dày đặc được đồng bào dân tộc Mường, Thái ở địa phương gìn giữ và đã trở thành những danh lam thắng cảnh nổi tiếng.
Những suối cá thần đã có từ bao giờ, không ai biết chính xác nhưng được phổ biến rộng rãi lên phương tiện thông tin đại chúng từ một, hai... rồi đến ba nơi có cá thần tại Thanh Hóa đã tạo nên những điểm du lịch gây sốt cho du khách. Dulichgo sẽ giới thiệu về cả 3 suối cá thần này cùng hướng dẫn về đường đi, mời bạn xem nhé.
Suối Cá thần Cẩm Lương
< Đường vào suối cá thần Cẩm Lương.
Suối Cá thần Cẩm Lương (còn gọi là Mó Ngọc) nằm bên chân núi Trường Sinh, thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, thuộc huyện miền núi Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa (cách trung tâm thành phố Thanh Hoá 80 km về phía tây Bắc).
Đàn cá ở suối cá thần này có hàng nghìn con lớn, nhỏ, mỗi con cá có thể nặng từ 2 đến 8kg, có cá chúa nặng tới 30 kg, gồm các loài: Cá dốc (tên khoa học: Spinibarbichthys denticulatus, thuộc bộ Cá chép, có tên trong Sách đỏ Việt Nam); cá chài, cá mại. Hình thù các loài cá này rất lạ, màu sắc phong phú như: màu đỏ, xanh, hồng...
Mỗi khi bơi, thân cá thần phát sáng nhiều màu, lấp lánh ánh bạc rất đẹp. Vào mùa nước cạn, lòng suối Ngọc chỉ sâu khoảng 20 cm đến 40 cm, nước trong vắt, có thể đưa tay xuống nước vuốt ve những con cá thần.
Đây là điều hấp dẫn nên đã thu hút hàng nghìn lượt du khách đến suối cá thần Cẩm Lương mỗi năm. Bên cạnh suối cá thần, xã Cẩm Lương hiện đang còn giữ được nguyên vẹn hệ thống rừng nguyên sinh với các loài động, thực vật đặc trưng của vùng nhiệt đới, thuộc dãy núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương.
Tuy mật độ cá dày đặc nhưng nước suối không bao giờ tanh. Người dân ở đây vẫn thường nấu ăn bằng nước của dòng suối này. Hiện nay, đã có đường cầu treo qua sông Mã để du khách có thể qua lại dễ dàng.
Người ta tin rằng cá ở đây linh thiêng nên mọi người chỉ đến chiêm ngưỡng và cầu may, không ai đánh bắt.
Đây là một địa điểm tham quan nổi tiếng của Thanh Hóa. Theo niềm tin của người dân trong vùng, đây là giống cá thần. Sự sung túc của đàn cá trên dòng suối sẽ đem lại sự bình yên no ấm cho cuộc sống của bà con dân tộc Mường, nên truyền đời người dân trong khu vực luôn gìn giữ nuôi nấng, không ai dám ăn thịt loại cá này, vì đó là hành động xúc phạm đến thần linh, chẳng những gây ra tai hoạ cho mình mà còn cho cả cộng đồng.
< Một ngôi đền nhỏ cạnh đó thờ thần cá.
Có thể nói rõ hơn về xã Cẩm Lương là xung quanh giáp với các xã Cẩm Thạch, Cẩm Thành, Cẩm Giang của huyện Cẩm Thủy và phía bắc giáp huyện Bá Thước. Hiện nay, đã có đường cầu treo qua sông Mã để du khách có thể qua lại dễ dàng. Suối Lương Ngọc dài hơn trăm mét, chảy từ một hang đá chân núi, đổ ra cánh đồng thung lũng nằm thoai thoải bên bờ nam sông Mã.
Suối Cá thần Cẩm Liên
Suối Cá thần Cẩm Liên (còn được gọi là Suối Đóng hay Mó Đóng) thuộc địa phận thôn Rùng, xã Cẩm Liên, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá; cách thị trấn Cẩm Thuỷ 15 km về phía tây. Suối Đóng và Suối Cá thần Cẩm Lương nằm ở hai phía bờ khác nhau của Sông Mã.
Tên gọi suối cá thần Mó Đóng, có nghĩa là ở tại khu vực núi Đóng có khe nước chảy ra sông và người Mường thường quen gọi khe nước là Mó nước. Tại Mó nước này có cá thần sinh sống quanh năm suốt tháng nên mới có tên suối cá thần Mó Đóng.
< Cá dày đặc mặt suối.
Nước ở mó Đóng là nguồn nước cơ bản chảy ra ruộng để bà con bản địa cấy hái, nhưng cá chẳng bao giờ bơi ra. Chúng chỉ quẩn quanh trong một diện tích chừng 500m² rồi lại quay vào.
Loài cá này được người dân Mường gọi là 'cá phốôc' hay 'cá Dốc' có hình thù mình tựa cá trắm, căng tròn ở phần giữa thân, vẩy như vẩy cá chép, lưng hơi sẫm, môi có màu phớt hồng, vây và đuôi có chấm đỏ. Cá thường nặng tới 6 - 7kg, con nhỏ thì cũng 300 gram. Đây cũng là loài cá ở suối cá thần Cẩm Lương.
Muốn vào hang núi Đóng nơi có loài cá trên sinh sống, người dân có thể đi vào bằng 3 cửa. 2 cửa trên hông núi không có nước, 1 cửa bên dưới nơi loài cá vẫn thường ra vào gọi là Mó Đóng. Tại đây có hàng ngàn con cá lượn lờ tìm ăn trong bán kính Mó Đóng chỉ rộng chừng 200m². Thỉnh thoảng có vài con phi lên khỏi mặt nước khi có ai đó ném bất kỳ vật gì xuống suối.
Cá Dốc xuất hiện nhiều nhất vào khi trời sáng, đến tầm 5 - 6 giờ chiều, khi mặt trời nhá nhem là lại rủ nhau vào hang trú ẩn. Có điều lạ là loài cá này không bao giờ bơi ra khỏi khu vực Mó Đóng, dù khe nước chảy ra cánh đồng của xã và đổ ra sông Mã. Kể cả khi trời lụt lội, nước cao tràn cả ra ngoài thì chúng cũng không hề bơi đi nơi khác.
< Hang Mó Đóng.
Cá Dốc ở suối Mó Đóng nhiều như vậy nhưng không ai dám đánh bắt để ăn. Cùng lắm họ cũng chỉ lấy nước dùng cho sinh hoạt gia đình. Theo người dân nơi đây cho biết là nếu bắt cá ở suối cá thần là có tội nên ai đó gan to đến đâu cũng không dám mạo phạm.
Suối Cá thần tại xã Văn Nho
< Toàn cảnh ngọn núi cao nơi có hang suối cá thần Chiềng Ban sinh sống được xây đập chứa nước kiên cố.
Đây là suối Cá thần được phát hiện tại Thanh Hoá. Suối thuộc bản Chiềng Ban, xã Văn Nho, huyện Bá Thước. Khu vực này nằm trong lưu vực sông Âm, một nhánh của sông Chu. Cá ở đây nặng từ 400g đến 5kg.
Từ QL217, qua UBND xã Văn Nho chừng 7km sẽ đến được với khu vực cận hang cá thần. Từ đây đi bộ vào chừng gần một cây số là đến. Hang cá thần nằm dưới chân một ngọn núi đá vôi, cây cối um tùm hoang sơ, tịch mịch. Bên dưới, một con suối ngầm chảy từ trong lòng núi ra, được người dân xây đập ngăn lại lấy nước tưới tiêu cho đồng ruộng và đây cũng chính là suối cá của xã Văn Nho.
< Cận cảnh cửa miệng hang núi nơi ra vào của đàn cá thần lúc nào cũng ngập sâu trong nước.
Trong chuyến đi hôm ấy, chúng tôi may mắn gặp ông Hà Văn Thân, dân tộc Mường, sống tại thôn Chiềng Ban. Ông cũng chính là người được cử trông coi suối cá và bàn thờ trên núi. Thấy chúng tôi có vẻ băn khoăn khi trông xuống dòng nước vì không thấy cá, ông nói: “Các cậu muốn thấy cá, thì phải làm thế này này”, nói rồi ông vỗ nhẹ hai bàn tay và rắc xuống mặt nước một ít bột, giống như cám ngô. Bất ngờ, một đàn cá lớn, lưng đen lao đến, vây kín mặt nước.
Từ trong hang, từng đàn cá lớn nhỏ cũng nối nhau bơi ra trước những tiếng động nhẹ phát ra từ đôi bàn tay của ông lão. Lấy làm lạ, chúng tôi ghé sát mặt nước và vỗ nhẹ, tức thì, đàn cá vây đến mỗi lúc một đông. Trong số đó, có không ít con cá với kích thước lớn, dễ chừng nặng đến chục cân. Theo ông, bình thường thì cá không hay ra khỏi hang như suối cá ở huyện Cẩm Thủy; cá ở đây chủ yếu là cá rộc, các loại khác cũng có nhưng ít hơn…
Cũng theo ông: suối cá này ông đã biết khi còn bé. Đây là một con suối ngầm chảy qua núi, bắt đầu từ cây số 8 ở đường 217 về đến Chiềng Ban. Phía sâu trong núi còn có một cái hang rộng khoảng 50m² với trần hang khá cao chính là nơi đàn cá tập trung với số lượng đông nhất. Bình thường đàn cá ở trong đó hết, chỉ khi có người tới thả thức ăn xuống đập cá mới ra nhiều. Muốn vào được hang phải lặn qua một cửa hang ngầm dài chừng 25m, nếu có gặp đàn cá thì cứ lẳng lặng mà bởi, đừng làm gì cả.
< Ông Hà Văn Thân đang thắp nén hương trong động thờ thần cá.
Từ những năm 1970, quân đội Việt Nam đã xây dựng đập chắn nước thủy lợi tại dòng suối này. Trong những năm gần đây, đàn cá nơi này có dấu hiệu phát triển ngày càng nhiều tạo nên sức hút của suối cá Chiềng Ban và xứng đáng là một điểm du lịch hoang sơ, lý tưởng cho tương lai.
Nét tương đồng giữa ba suối cá
- Khi được hỏi về lịch sử tồn tại và phát triển của các suối cá này, người dân địa phương không một ai hay biết. Ngay cả người cao tuổi nhất làng khi được hỏi cũng trả lời: “Tôi sinh ra thì đã có suối cá rồi. Các cụ thân sinh ra tôi cũng không hề biết suối cá có từ bao giờ”.
Chính vì không biết chính xác lịch sử của suối cá nên luôn có những câu chuyện thần thoại ly kỳ, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc của người dân trong vùng, gắn liền với các suối cá. Những câu chuyện ấy nhằm giải thích về sự xuất hiện của suối “cá thần”, mang đậm giá trị tâm linh.
- Ba suối cá đều là con suối tự nhiên chứ không phải do con người tạo ra. Các suối cá này đều nằm dưới chân một ngon núi cao, phía trong là một hang ngầm, là nơi để đàn cá vào nghỉ ngơi. Cửa hang rất hẹp, chỉ đủ cho đàn cá ra vào. Không một ai biết trong lòng hang rộng hẹp thế nào và bắt nguồn từ đâu? Liệu trong hang có con cá “hàng khủng” nào trú ngụ không?
< Cá luôn thân thiện với mọi người...
- Phía trên các suối cá đều có một hang động rất đẹp, nhân dân trong vùng coi đó là nơi ở của 'thần cá'. Ở suối cá thứ nhất là Động Đăng, ở suối cá thứ hai là Động Nghỉ Mát (vì động này là nơi rất nhiều người dân trong vùng lên nghỉ mát vào những ngày hè) và ở suối cá thứ ba là Động Cá Thần (trong hang động này người dân lập bàn thờ để thờ 'thần cá').
- Đàn cá ở cả ba suối có vẻ như cùng loài với nhau, người dân trong vùng đều coi đó là loại cá thần, không một ai đánh bắt hay ăn thịt. Họ coi đàn cá như vị thần luôn phù hộ, giúp dân làng có cuộc sống ấm no.

< ... kể cả trẻ nhỏ.
Trước thông tin cho rằng một số cá ở suối giống với cá tại hai suối cá ở Cẩm Thủy, liệu các suối cá này có thông với nhau? Theo tìm hiểu của các cụ lớn tuổi thì khả năng 3 suối cá thông với nhau là ít xảy ra. Tuy nhiên, cũng không loại trừ do địa hình biến đổi theo thời gian nên các rãnh, suối có sự thông nhau, muốn rõ được phải có cuộc khảo sát kỹ lưỡng mới có thể biết được.
Du lịch Thanh Hóa, bạn đừng quên những suối cá thần độc đáo này nhé.
Hướng dẫn thêm đường đến các Suối Cá thần:
+ Từ thành phố Thanh Hoá, có thể đến các suối Cá thần bằng hai con đường:
Theo quốc lộ 45, đi qua thị trấn Rừng Thông (huyện Đông Sơn), thị trấn Vạn Hà (huyện Thiệu Hóa), thị trấn Quán Lào (huyện Yên Định) đến thị trấn Vĩnh Lộc thì rẽ sang tỉnh lộ 217 đến thị trấn Cẩm Thủy, tiếp tục theo tỉnh lộ 217 khoảng 11 km đến gần hết địa phận huyện Cẩm Thuỷ thì rẽ phải và vượt sông Mã để vào suối Cá thần Cẩm Lương, hoặc rẽ trái để vào suối Cá thần Cẩm Liên. Nếu đi tiếp tỉnh lộ 217 đến thị trấn Cành Nàng (huyện Bá Thước) có thể đến được Suối Cá thần tại xã Văn Nho.
+ Theo quốc lộ 47, đi qua thị trấn Rừng Thông (huyện Đông Sơn), thị tứ Thiều (xã Dân Lý, huyện Triệu Sơn), thị trấn Lam Sơn (huyện Thọ Xuân) rồi ngược theo đường Hồ Chí Minh (đoạn quốc lộ 15A), đến thị trấn Ngọc Lặc. Từ thị trấn Ngọc Lặc rẽ sang tỉnh lộ 519 đến thị trấn Cẩm Thủy để vào suối Cá thần Cẩm Lương và suối Cá thần Cẩm Liên, hoặc theo quốc lộ 15A đến thị trấn Lang Chánh, rồi đến xã Thiết Ống thì rẽ vào Suối Cá thần tại xã Văn Nho.
Du lịch, GO! - Ảnh internet
Những suối cá thần đã có từ bao giờ, không ai biết chính xác nhưng được phổ biến rộng rãi lên phương tiện thông tin đại chúng từ một, hai... rồi đến ba nơi có cá thần tại Thanh Hóa đã tạo nên những điểm du lịch gây sốt cho du khách. Dulichgo sẽ giới thiệu về cả 3 suối cá thần này cùng hướng dẫn về đường đi, mời bạn xem nhé.
Suối Cá thần Cẩm Lương
< Đường vào suối cá thần Cẩm Lương.
Suối Cá thần Cẩm Lương (còn gọi là Mó Ngọc) nằm bên chân núi Trường Sinh, thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, thuộc huyện miền núi Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa (cách trung tâm thành phố Thanh Hoá 80 km về phía tây Bắc).
Đàn cá ở suối cá thần này có hàng nghìn con lớn, nhỏ, mỗi con cá có thể nặng từ 2 đến 8kg, có cá chúa nặng tới 30 kg, gồm các loài: Cá dốc (tên khoa học: Spinibarbichthys denticulatus, thuộc bộ Cá chép, có tên trong Sách đỏ Việt Nam); cá chài, cá mại. Hình thù các loài cá này rất lạ, màu sắc phong phú như: màu đỏ, xanh, hồng...
Mỗi khi bơi, thân cá thần phát sáng nhiều màu, lấp lánh ánh bạc rất đẹp. Vào mùa nước cạn, lòng suối Ngọc chỉ sâu khoảng 20 cm đến 40 cm, nước trong vắt, có thể đưa tay xuống nước vuốt ve những con cá thần.
Đây là điều hấp dẫn nên đã thu hút hàng nghìn lượt du khách đến suối cá thần Cẩm Lương mỗi năm. Bên cạnh suối cá thần, xã Cẩm Lương hiện đang còn giữ được nguyên vẹn hệ thống rừng nguyên sinh với các loài động, thực vật đặc trưng của vùng nhiệt đới, thuộc dãy núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương.
Tuy mật độ cá dày đặc nhưng nước suối không bao giờ tanh. Người dân ở đây vẫn thường nấu ăn bằng nước của dòng suối này. Hiện nay, đã có đường cầu treo qua sông Mã để du khách có thể qua lại dễ dàng.
Người ta tin rằng cá ở đây linh thiêng nên mọi người chỉ đến chiêm ngưỡng và cầu may, không ai đánh bắt.
< Một ngôi đền nhỏ cạnh đó thờ thần cá.
Có thể nói rõ hơn về xã Cẩm Lương là xung quanh giáp với các xã Cẩm Thạch, Cẩm Thành, Cẩm Giang của huyện Cẩm Thủy và phía bắc giáp huyện Bá Thước. Hiện nay, đã có đường cầu treo qua sông Mã để du khách có thể qua lại dễ dàng. Suối Lương Ngọc dài hơn trăm mét, chảy từ một hang đá chân núi, đổ ra cánh đồng thung lũng nằm thoai thoải bên bờ nam sông Mã.
Suối Cá thần Cẩm Liên
Suối Cá thần Cẩm Liên (còn được gọi là Suối Đóng hay Mó Đóng) thuộc địa phận thôn Rùng, xã Cẩm Liên, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá; cách thị trấn Cẩm Thuỷ 15 km về phía tây. Suối Đóng và Suối Cá thần Cẩm Lương nằm ở hai phía bờ khác nhau của Sông Mã.
Tên gọi suối cá thần Mó Đóng, có nghĩa là ở tại khu vực núi Đóng có khe nước chảy ra sông và người Mường thường quen gọi khe nước là Mó nước. Tại Mó nước này có cá thần sinh sống quanh năm suốt tháng nên mới có tên suối cá thần Mó Đóng.
< Cá dày đặc mặt suối.
Nước ở mó Đóng là nguồn nước cơ bản chảy ra ruộng để bà con bản địa cấy hái, nhưng cá chẳng bao giờ bơi ra. Chúng chỉ quẩn quanh trong một diện tích chừng 500m² rồi lại quay vào.
Loài cá này được người dân Mường gọi là 'cá phốôc' hay 'cá Dốc' có hình thù mình tựa cá trắm, căng tròn ở phần giữa thân, vẩy như vẩy cá chép, lưng hơi sẫm, môi có màu phớt hồng, vây và đuôi có chấm đỏ. Cá thường nặng tới 6 - 7kg, con nhỏ thì cũng 300 gram. Đây cũng là loài cá ở suối cá thần Cẩm Lương.
Muốn vào hang núi Đóng nơi có loài cá trên sinh sống, người dân có thể đi vào bằng 3 cửa. 2 cửa trên hông núi không có nước, 1 cửa bên dưới nơi loài cá vẫn thường ra vào gọi là Mó Đóng. Tại đây có hàng ngàn con cá lượn lờ tìm ăn trong bán kính Mó Đóng chỉ rộng chừng 200m². Thỉnh thoảng có vài con phi lên khỏi mặt nước khi có ai đó ném bất kỳ vật gì xuống suối.
< Hang Mó Đóng.
Cá Dốc ở suối Mó Đóng nhiều như vậy nhưng không ai dám đánh bắt để ăn. Cùng lắm họ cũng chỉ lấy nước dùng cho sinh hoạt gia đình. Theo người dân nơi đây cho biết là nếu bắt cá ở suối cá thần là có tội nên ai đó gan to đến đâu cũng không dám mạo phạm.
Suối Cá thần tại xã Văn Nho
< Toàn cảnh ngọn núi cao nơi có hang suối cá thần Chiềng Ban sinh sống được xây đập chứa nước kiên cố.
Đây là suối Cá thần được phát hiện tại Thanh Hoá. Suối thuộc bản Chiềng Ban, xã Văn Nho, huyện Bá Thước. Khu vực này nằm trong lưu vực sông Âm, một nhánh của sông Chu. Cá ở đây nặng từ 400g đến 5kg.
Từ QL217, qua UBND xã Văn Nho chừng 7km sẽ đến được với khu vực cận hang cá thần. Từ đây đi bộ vào chừng gần một cây số là đến. Hang cá thần nằm dưới chân một ngọn núi đá vôi, cây cối um tùm hoang sơ, tịch mịch. Bên dưới, một con suối ngầm chảy từ trong lòng núi ra, được người dân xây đập ngăn lại lấy nước tưới tiêu cho đồng ruộng và đây cũng chính là suối cá của xã Văn Nho.
< Cận cảnh cửa miệng hang núi nơi ra vào của đàn cá thần lúc nào cũng ngập sâu trong nước.
Trong chuyến đi hôm ấy, chúng tôi may mắn gặp ông Hà Văn Thân, dân tộc Mường, sống tại thôn Chiềng Ban. Ông cũng chính là người được cử trông coi suối cá và bàn thờ trên núi. Thấy chúng tôi có vẻ băn khoăn khi trông xuống dòng nước vì không thấy cá, ông nói: “Các cậu muốn thấy cá, thì phải làm thế này này”, nói rồi ông vỗ nhẹ hai bàn tay và rắc xuống mặt nước một ít bột, giống như cám ngô. Bất ngờ, một đàn cá lớn, lưng đen lao đến, vây kín mặt nước.
Từ trong hang, từng đàn cá lớn nhỏ cũng nối nhau bơi ra trước những tiếng động nhẹ phát ra từ đôi bàn tay của ông lão. Lấy làm lạ, chúng tôi ghé sát mặt nước và vỗ nhẹ, tức thì, đàn cá vây đến mỗi lúc một đông. Trong số đó, có không ít con cá với kích thước lớn, dễ chừng nặng đến chục cân. Theo ông, bình thường thì cá không hay ra khỏi hang như suối cá ở huyện Cẩm Thủy; cá ở đây chủ yếu là cá rộc, các loại khác cũng có nhưng ít hơn…
Cũng theo ông: suối cá này ông đã biết khi còn bé. Đây là một con suối ngầm chảy qua núi, bắt đầu từ cây số 8 ở đường 217 về đến Chiềng Ban. Phía sâu trong núi còn có một cái hang rộng khoảng 50m² với trần hang khá cao chính là nơi đàn cá tập trung với số lượng đông nhất. Bình thường đàn cá ở trong đó hết, chỉ khi có người tới thả thức ăn xuống đập cá mới ra nhiều. Muốn vào được hang phải lặn qua một cửa hang ngầm dài chừng 25m, nếu có gặp đàn cá thì cứ lẳng lặng mà bởi, đừng làm gì cả.
< Ông Hà Văn Thân đang thắp nén hương trong động thờ thần cá.
Từ những năm 1970, quân đội Việt Nam đã xây dựng đập chắn nước thủy lợi tại dòng suối này. Trong những năm gần đây, đàn cá nơi này có dấu hiệu phát triển ngày càng nhiều tạo nên sức hút của suối cá Chiềng Ban và xứng đáng là một điểm du lịch hoang sơ, lý tưởng cho tương lai.
Nét tương đồng giữa ba suối cá
- Khi được hỏi về lịch sử tồn tại và phát triển của các suối cá này, người dân địa phương không một ai hay biết. Ngay cả người cao tuổi nhất làng khi được hỏi cũng trả lời: “Tôi sinh ra thì đã có suối cá rồi. Các cụ thân sinh ra tôi cũng không hề biết suối cá có từ bao giờ”.
Chính vì không biết chính xác lịch sử của suối cá nên luôn có những câu chuyện thần thoại ly kỳ, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc của người dân trong vùng, gắn liền với các suối cá. Những câu chuyện ấy nhằm giải thích về sự xuất hiện của suối “cá thần”, mang đậm giá trị tâm linh.
- Ba suối cá đều là con suối tự nhiên chứ không phải do con người tạo ra. Các suối cá này đều nằm dưới chân một ngon núi cao, phía trong là một hang ngầm, là nơi để đàn cá vào nghỉ ngơi. Cửa hang rất hẹp, chỉ đủ cho đàn cá ra vào. Không một ai biết trong lòng hang rộng hẹp thế nào và bắt nguồn từ đâu? Liệu trong hang có con cá “hàng khủng” nào trú ngụ không?
< Cá luôn thân thiện với mọi người...
- Phía trên các suối cá đều có một hang động rất đẹp, nhân dân trong vùng coi đó là nơi ở của 'thần cá'. Ở suối cá thứ nhất là Động Đăng, ở suối cá thứ hai là Động Nghỉ Mát (vì động này là nơi rất nhiều người dân trong vùng lên nghỉ mát vào những ngày hè) và ở suối cá thứ ba là Động Cá Thần (trong hang động này người dân lập bàn thờ để thờ 'thần cá').
- Đàn cá ở cả ba suối có vẻ như cùng loài với nhau, người dân trong vùng đều coi đó là loại cá thần, không một ai đánh bắt hay ăn thịt. Họ coi đàn cá như vị thần luôn phù hộ, giúp dân làng có cuộc sống ấm no.

< ... kể cả trẻ nhỏ.
Trước thông tin cho rằng một số cá ở suối giống với cá tại hai suối cá ở Cẩm Thủy, liệu các suối cá này có thông với nhau? Theo tìm hiểu của các cụ lớn tuổi thì khả năng 3 suối cá thông với nhau là ít xảy ra. Tuy nhiên, cũng không loại trừ do địa hình biến đổi theo thời gian nên các rãnh, suối có sự thông nhau, muốn rõ được phải có cuộc khảo sát kỹ lưỡng mới có thể biết được.
Du lịch Thanh Hóa, bạn đừng quên những suối cá thần độc đáo này nhé.
Hướng dẫn thêm đường đến các Suối Cá thần:
+ Từ thành phố Thanh Hoá, có thể đến các suối Cá thần bằng hai con đường:
Theo quốc lộ 45, đi qua thị trấn Rừng Thông (huyện Đông Sơn), thị trấn Vạn Hà (huyện Thiệu Hóa), thị trấn Quán Lào (huyện Yên Định) đến thị trấn Vĩnh Lộc thì rẽ sang tỉnh lộ 217 đến thị trấn Cẩm Thủy, tiếp tục theo tỉnh lộ 217 khoảng 11 km đến gần hết địa phận huyện Cẩm Thuỷ thì rẽ phải và vượt sông Mã để vào suối Cá thần Cẩm Lương, hoặc rẽ trái để vào suối Cá thần Cẩm Liên. Nếu đi tiếp tỉnh lộ 217 đến thị trấn Cành Nàng (huyện Bá Thước) có thể đến được Suối Cá thần tại xã Văn Nho.
+ Theo quốc lộ 47, đi qua thị trấn Rừng Thông (huyện Đông Sơn), thị tứ Thiều (xã Dân Lý, huyện Triệu Sơn), thị trấn Lam Sơn (huyện Thọ Xuân) rồi ngược theo đường Hồ Chí Minh (đoạn quốc lộ 15A), đến thị trấn Ngọc Lặc. Từ thị trấn Ngọc Lặc rẽ sang tỉnh lộ 519 đến thị trấn Cẩm Thủy để vào suối Cá thần Cẩm Lương và suối Cá thần Cẩm Liên, hoặc theo quốc lộ 15A đến thị trấn Lang Chánh, rồi đến xã Thiết Ống thì rẽ vào Suối Cá thần tại xã Văn Nho.Du lịch, GO! - Ảnh internet
Các điểm tham quan ở An Giang
An Giang là tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam với một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên.
Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long nhưng về diện tích chỉ đứng thứ 4 trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long sau tỉnh Kiên Giang, tỉnh Cà Mau và tỉnh Long An. Tháng 7/2013, An Giang là tỉnh đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long có 2 thành phố trực thuộc tỉnh là Long Xuyên và Châu Đốc.
An Giang có nhiều thắng cảnh đẹp có thể tạm kể ra như...
1. Bia Thoại Sơn
Bia Thoại Sơn nằm dưới chân núi Sập, trong đình Thoại Sơn thuộc thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, cách thành phố Long Xuyên khoảng 28km. Bia Thoại Sơn do Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) dựng năm 1822 và là một trong hai công trình di tích lịch sử và bia ký nổi tiếng ở Việt Nam dưới chế độ phong kiến còn lưu lại đến ngày nay.
Bia đá có chiều cao 3m, ngang 1,2m, bề dầy 0,2m. Mặt bia chạm 629 chữ mô tả công trình đào kênh Thoại Hà và nói lên tình cảm của Thoại Ngọc Hầu với triều đình, với nhân dân.
< Tượng Thoại Ngọc Hầu.
Vào đầu thế kỷ 19, vùng Thoại Sơn rất hoang vu, mịt mù cây rừng cỏ dại. Lạch nước tuy có sẵn nhưng nhỏ hẹp, bùn đọng, cỏ lấp, thuyền qua lại không nổi. Con sông Đông Xuyên (nay là Long Xuyên) chỉ kéo dài đến Ba Bần, mọi giao thông của tàu thuyền từ Long Xuyên và đồng bằng sông Cửu Long muốn sang Rạch Giá, Hà Tiên hay ngược lại đều phải đi đường biển vòng xuống Cà Mau.
Năm 1817 khi Thoại Ngọc Hầu về trấn thủ Vĩnh Thanh, sau khi khảo sát thực tế, nghiên cứu địa hình vùng tứ giác Long Xuyên, ông chủ trương đào kênh Đông Xuyên – Rạch Giá, đầu kênh tại Ba Bần (Ba Dầu hiện nay). Chủ trương đào kênh của ông được vua Gia Long chấp thuận và vào mùa xuân 1818, việc đào kênh được khởi công.
< Đền thờ Thoại Ngọc Hầu.
Kênh đào theo lạch nước cũ nên sau một tháng đã hoàn thành. Bề ngang kênh 61m, chiều dài tới Rạch Giá là trên 30km và là con kênh đào sớm nhất ở miền Nam. Nó có vị trí quan trọng cho giao thông vận tải đường sông và phát triển nông nghiệp của huyện Thoại Sơn. Khi công trình đào kênh hoàn tất, vua Gia Long rất khen ngợi ra lệnh lấy tên Thoại Ngọc Hầu đặt tên cho sông là Thoại Hà (Sông Thoại).
Trên bờ phía đông của Thoại Hà có một ngọn núi, tục gọi là núi Sập, vua liền cho đổi tên là Thoại Sơn (Núi Thoại) để tặng thưởng công lao khó nhọc của Thoại Ngọc Hầu. Để ghi dấu một kỷ niệm trọng đại trong cuộc đời mình, Thoại Ngọc Hầu soạn một bài văn khắc vào bia đá. Năm Minh Mạng thứ ba (1822), Thoại Ngọc Hầu long trọng làm lễ dựng bia tại miếu thờ Sơn thần (nay là ngôi đình thờ ông làm Thành Hoàng) bên triền núi Sập.
2. Cù Lao Giêng
< Nhà thờ Cù Lao Giêng.
Cù Lao Giêng thuộc xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cù Lao Giêng (hay Diên, Riêng, Den, Ven) mà người Khmer gọi “Koh-Teng” có một bề dày lịch sử rất tự hào, nơi đã ghi lại dấu son lịch sử của phong trào cách mạng từ những năm 1930 với lá cờ đỏ búa liềm trên cột dây thép xã Long Điền A.
Với cảnh quan thiên nhiên đầy sức quyến rũ của một vùng sông nước, cá lội tung tăng cùng vô vàn chủng loại cây trái đặc sản của miền phù sa nước ngọt, Cù Lao Giêng còn có những công trình văn hoá và mỹ thuật tiêu biểu như Chùa Bà Lê (Phước Hội Tự), một di tích lịch sử cách mạng thuộc xã Hội An, huyện Chợ Mới đã được Nhà nước công nhận di tích quốc gia.
< Bên trong nhà thờ.
Hiện nay, bên trong còn thờ những bài vị của các anh hùng liệt sĩ cách mạng dưới hình thức tôn giáo để che mắt giặc trong thời chiến tranh. Cù Lao Giêng còn là quê hương của người nữ anh hùng liệt sĩ Huỳnh Thị Hưởng – một “Võ Thị Sáu” kiên cường của An Giang. Trên đất này còn có di tích nhà thờ Cù Lao Giêng (xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới) được xây cất từ năm 1877, lớn nhất ở Việt Nam và có trước nhà thờ Ðức Bà ở Sài Gòn chừng vài tháng.
Tương truyền nơi đây xưa kia là một trong những nơi đóng binh của nhà Nguyễn. Ðặc biệt trong khu này có danh lam Thành Hoa Tự, một ngôi chùa với lối kiến trúc sinh động, trên tường được chạm nổi những hoa văn mang nhiều hình ảnh đặc trưng mô phỏng cảnh yên bình thoát tục được khắc hoạ bởi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân vùng Chợ Thủ.
< Chùa đạo Nằm.
Thành Hoa Tự còn gọi là “chùa Ðạo Nằm”, được xây dựng vào năm 1953 do sư tổ hoà thượng pháp danh Tịnh Nghiêm, quê ở làng Hoà An (Tx. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) về đây trụ trì. Ðến năm 1954 thì Ông viên tịch, hưởng thọ 51 tuổi. Hiện nay, trong Bảo Tháp cạnh chùa có đặt thi hài Ông. Là một tu sĩ phật giáo không sáng tác kinh kệ riêng, cũng không đưa ra một phương thức tu tập mới, nhưng hành trang và cuộc đời của ông hầu như đã gắn với nhiều huyền thoại khá ly kỳ từ cung cách sinh hoạt đến dáng đi, giọng nói đều biểu hiện một cốt cách phi phàm nhưng đặc biệt nhất là… nằm!
< Chùa Phước Thành.
Có lẽ ông là người chiếm kỷ lục về thời gian nằm ở nước ta. Trong suốt 9 năm khổ luyện ông đã nằm quay mặt vào vách theo tư thế của Ðức Phật Thích Ca được gọi là “cửu niên diện bích”. Có phải chăng, đây là điều kỳ lạ để cho mọi người từ các nơi đổ về hành hương chiêm bái. Vào ngày giỗ (từ 15 đến 16 tháng 2 âm lịch và các ngày rằm lớn trong năm) có lúc lên tới 10 ngàn lượt người. Cù Lao Giêng đã từng là cứ địa của Xứ Uỷ Nam Kỳ, nơi phát đi những tín hiệu và mệnh lệnh đấu tranh giành quyền sống cho nhân dân ngay từ thời thuộc Pháp.
Và cũng chính nơi đây đã sản sinh ra không ít những người con anh hùng trung dũng của quê hương An Giang. Phải chăng từ những di tích và di sản truyền thống quí báu tự ngàn xưa còn để lại cùng những cảnh quan nên thơ hữu tình ấy đã vẫy gọi khách du lịch hành hương từ mọi miền đổ về đây tham quan, thưởng ngoạn.
3. Cụm di tích núi Sam
Di tích núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, tỉnh An Giang. Đặc điểm: Núi Sam không chỉ là cảnh đẹp thiên nhiên, tại đây có nhiều di tích kiến trúc, văn hóa đã khắc sâu vào tâm linh người dân đồng bằng Nam Bộ.
Núi Sam cao 284m nằm ở vùng đồng bằng, có đường nhựa dài khoảng 5km cho xe chạy vòng quanh lên tận đỉnh núi. Núi Sam cùng các ngọn núi khác vùng Bảy Núi là những điểm nhấn tạo nên cảnh quan tự nhiên rất thơ mộng ở miền tây nam của Việt Nam, giáp với biên giới Cam-pu-chia.
< Chùa Tây An ở Núi Sam.
Núi thấp có nhiều đường mòn, nhiều ngả lên xuống, ít cây cổ thụ. Theo truyền thuyết, núi có nhiều linh hiển, nên có nhiều chùa thờ Phật đã dựng lên tại đây gần 2 thế kỷ.
Ðồng bào khắp nơi hành hương về đây cúng lễ rất đông. Có đến 200 ngôi đền, chùa, am, miếu nằm rải rác ở chân núi, sườn núi và cả trên đỉnh. Trên đỉnh núi có một pháo đài được xây dựng từ thời Pháp.
Dưới chân núi có Lăng Thoại Ngọc Hầu (Nguyễn Văn Thoại), một tướng triều Nguyễn có nhiều công đức với nhân dân địa phương trong việc tổ chức đào hai con kênh quan trọng ở An Giang: kênh Vĩnh Tế dài 90km nối sông Hậu với Hương Thành (Hà Tiên) và ra vịnh Thái Lan; kênh Chỉnh An nối sông Hậu qua sông Tiền; đắp lộ lớn Châu Ðốc – Long Xuyên. Tất cả những công trình quan trọng ấy đều hoàn tất trước khi Thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ (1858). Tại đây còn có miếu bà Chúa Xứ, chùa Tây An, vườn Tao Ngộ, đồi Bạch Vân…
4. Chùa Ông Bắc
Chùa Ông Bắc nằm trên đường Phạm Hồng Thái thuộc phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Chùa Ông Bắc còn được gọi là Quảng Đông Tỉnh Hội Quán là một di tích kiến trúc chính thống của người Việt gốc Hoa với các di vật cổ có giá trị cao.
Chùa được xây dựng cách đây trên 100 năm bởi những người Hoa từ tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) để làm nơi hội họp, sinh hoạt. Đến năm Giáp Ngọ 1887, ông Quảng Thành Lợi và Hòa Mậu Xương là hai người Hoa giàu có trong vùng, đứng ra vận động đồng hương và người dân tín ngưỡng đóng góp tiền của khởi công sửa chữa. Qua 4 năm xây dựng, đến năm Mậu Tuất 1891, chùa được hoàn thành và trở thành một công trình kiến trúc nghệ thuật đẹp và tiêu biểu của thành phố Long Xuyên.
Chùa có diện tích 400m², kiến trúc theo hình chữ Quốc. Mái chùa lợp ngói đại ống tráng men xanh, trên cạnh nóc chùa chạm khắc hình bát tiên, voi, rồng, phượng, cá… cùng những bức phù điêu, hoa văn cổ mang sắc thái nghệ thuật nhà Nguyễn pha lẫn kiến trúc nghệ thuật Trung Quốc.
Khung bao cửa chính ra vào chùa được xây bằng những tảng đá xanh chạm khắc tinh xảo, tường gạch trát vôi, nền lát gạch hoa. Nội thất chùa có cấu trúc phong thủy, thoáng mát, trên đỉnh cao tứ giác có nhiều bức chạm trổ đẹp, hình tam cấp tượng trưng cho ba cõi: Thiên, Địa, Nhân.
Trong chùa có 3 khánh, một tủ thờ sơn son thiếp vàng, một chuông đồng, đỉnh đồng… Bên hông chùa còn có ba bia đá ghi bằng chữ Hán kể lại lịch sử xây dựng chùa. Người được thờ tại chính điện là Bắc Đế, bên trái thờ Thiên Hậu, bên phải thờ Quan Công. Ngoài ra Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát, Ngọc Hoàng Thượng Đế … cũng được thờ tại đây. Tất cả tập hợp thành một bản sắc văn hóa của người Hoa đã hòa nhập lâu đời vào nền văn hóa Việt Nam. Chùa đã được công nhận di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia vào tháng 6/1987.
5. Chùa Giồng Thành (Long Hương Tự)
Chùa Giồng Thành thuộc xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, cách trung tâm tỉnh khoảng 75km về hướng Châu Đốc, cách thị xã Tân Châu 3km. Chùa Giồng Thành là một trong những di tích ở An Giang được Nhà nước công nhận, xếp hạng quốc gia vào năm 1986.
Chùa được hòa thượng Trần Minh Lý xây dựng lần đầu vào năm 1875 bằng vật liệu tre lá đơn sơ, đến nay trải qua 4 lần tu sửa lớn, lần sửa chữa gần nhất là vào năm 1970 nhưng vẫn tọa lạc trên nền cũ thuộc xã Long Sơn anh hùng (Phú Tân – An Giang). Nhìn từ bên ngoài, chùa mang dáng dấp kiến trúc Ấn Độ với mái tháp có hai tầng hình phễu, trang trí nhiều họa tiết hoa văn trang nhã nhưng về đại thể, chùa Giồng Thành là khối kiến trúc hài hòa theo phong cách Á – Âu với lối xây dựng theo hình chữ “song hỷ”, gồm 3 gian, mái lợp bằng ngói móc, trên cột chánh điện có vẽ hình rồng.
Về tên gọi chùa Giồng Thành, theo một số tài liệu cho biết là xuất phát từ chỗ chùa được xây trên nền đất của hào thành triều Nguyễn. Chùa Giồng Thành được nhiều người biết đến như địa chỉ đỏ của phong trào yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Tại đây vào những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ 20, tổ chức Kèo Vàng, Kèo Xanh của Phan Xích Long đã nhóm họp để thu hút người yêu nước chống thực dân Pháp, mở đầu cho hàng loạt hoạt động yêu nước sau này mà đỉnh cao là việc nuôi dưỡng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – trong những ngày đi truyền bá chủ nghĩa yêu nước chân chính cho đồng bào (1928 – 1929).
Trong những năm tháng chống Mỹ hào hùng, chùa Giồng Thành tiếp tục là cơ sở của Tỉnh ủy Châu Đốc, Huyện ủy Tân Châu và là điểm giao liên của Khu 8, Trung ương cục miền Nam. Đặc biệt nơi đây từng là chỗ trú ngụ an toàn cho nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước trong những năm tháng kháng chiến như: Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt….
Trước kia, hàng năm vào các ngày rằm tháng Giêng, tháng Bảy, tháng Mười (âm lịch), khách thập phương đến viếng và lễ chùa rất đông. Từ sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước đến nay, ngày 19/5 hàng năm được xem như ngày hội của nhà chùa với nhiều hoạt động mang tính chất văn hóa truyền thống đặc sắc để kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
6. Đồi Bạch Vân
Bạch Vân là một ngọn đồi thuộc núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang Đặc điểm: Đồi cao gần 100m, có hình dáng như cái đầu của con Sam hướng về phía bắc. Trước kia đồi có tên là núi Nhỏ nhưng vào khoảng năm 1942, có một cư sĩ lên đồi cất am tu thân, đặt tên là Bạch Vân Am nên từ đó đồi có tên là Bạch Vân.
Từ chân núi Sam lên đồi Bạch Vân có hai đường chính. Một là đi theo ghềnh đá sau lăng Thoại Ngọc Hầu, đến lưng chừng núi thì rẽ qua cầu Hoà Bình đến Bạch Vân, hoặc đi vòng dưới chân núi theo hướng tây đến khu nghĩa địa sẽ có bậc thang đi lên đồi Bạch Vân khá dễ dàng.
Đến Bạch Vân du khách sẽ thấy nhiều tảng đá lớn, cheo leo, chồng lên nhau tạo thành mái che, hang động thiên nhiên đẹp mắt, thú vị. Trên đồi còn có nhiều chùa chiền, am cốc. Với độ cao vừa phải và nhiều địa điểm bằng phẳng tựa vào các khe đá lồng lộng gió nên hằng năm, vào mùa xuân, dân ở các vùng lân cận thường lên đây hóng gió, tổ chức ăn uống, vui chơi.
7. Hồ Nguyễn Du
Hồ Nguyễn Du tọa lạc tại phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, An Giang. Đây được xem là một khu hồ, công viên đẹp nhất ở miền Tây với khung cảnh nên thơ, lãng mạn; với làn nước trong, yên ả và những rặng cây soi bóng xuống mặt hồ.
Hồ Nguyễn Du được hình thành từ một nhánh của con sông Hậu. Qua thời gian, khi phù sa bồi đắp, nhánh này tách rời khỏi sông và tạo thành hồ. Hồ Nguyễn Du có diện tích mặt nước khoảng 1.750 m2. Tại đây có một bến đò nhỏ qua Cồn Phó Ba một địa điểm có thể khai thác du lịch vườn trong tương lai.
Hồ nằm giữa hai con đường Nguyễn Du và Lê Lợi - con đường với hai hàng cây xanh rợp bóng, con đường mát nhất của thành phố Long Xuyên. Xung quanh hồ Nguyễn Du được thiết kế như một công viên với một cụm thể thao nhỏ bên cạnh đó còn có những trò chơi trẻ em đã làm cho khu vực trở nên trẻ trung, tươi tắn.
8. Núi Ba Thê
Đây là một ngọn núi nằm giữa vùng tứ giác Long Xuyên, thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Núi Ba Thê có tên gốc là Hoa Thê Sơn. Vào triều Minh Mạng, do kỵ húy tên Hoàng hậu là Hồ Thị Hoa nên Hoa Thê Sơn đổi tên thành núi Ba Thê.
Đến núi Ba Thê, du khách sẽ được thưởng ngoạn một thắng cảnh tuyệt đẹp mà tạo hóa đã ban cho. Đứng trên đỉnh núi phóng tầm nhìn bao quát cả khu vực sẽ thấy quanh núi là những cánh đồng trải rộng, xa xa về hướng tây là vùng biển Rạch Giá, chênh chếch hướng tây nam là dãy Thất Sơn hùng vĩ án ngữ phía chân trời. Có một con đường nhỏ lát bê tông ngoằn ngoèo, uốn lượn, chạy quanh co lên đỉnh núi, chỉ dài chừng 2km. Hai bên đường là rừng cây thâm u, vách đá và vực sâu thăm thẳm.
Trên đỉnh núi có ngôi chùa cổ tên Sơn Tiên Tự được dựng vào năm 1933. Trước sân chùa có tượng Phật Quan Thế Âm bồ tát cao chừng 8m, đứng trên tòa sen, khoác áo choàng đỏ, uy nghi, tự tại, sừng sững trên đỉnh núi như nhìn bao quát khắp thế gian. Ở trên đỉnh núi mây bay là đà mang hơi sương mát lạnh, cỏ cây xanh tốt ngút ngàn. Có nhiều tiếng chim hót líu lo, ríu rít khắp nơi. Thỉnh thoảng tiếng chuông chùa ngân vọng thênh thang, bàng bạc khắp núi rừng làm bâng khuâng, xao xuyến lòng người.
Cạnh ngôi tháp xá lợi cổ bên chùa có bia kỷ niệm ghi lại chiến công oanh liệt của quân giải phóng Ba Thê – Thoại Sơn, đã tiêu diệt gọn cứ điểm của địch trên đỉnh Ba Thê vào ngày 6/5/1968. Có một di tích rất lạ lùng gợi trí tò mò của du khách. Đó là hòn đá hoa cương cao chừng 3m, to cỡ gốc cổ thụ bốn năm người ôm, nằm bên hông chánh điện của Sơn Tiên Tự. Trên mặt viên đá khổng lồ ấy có dấu bàn chân người to hơn bình thường. Người ta cho đó là “bàn chân tiên”.
Các sư trên núi kể lại: xưa kia lúc mới tạo sơn, đá núi còn mềm như đất sét, có một vị tiên đã ấn bàn chân mình lên đá để làm dấu… Đi xuống phía triền núi cách chùa Sơn Tiên chừng 100m, du khách sẽ thấy nhà trưng bày những cổ vật, hiện vật có liên quan đến lịch sử cũng như văn hóa của Ba Thê – Óc Eo (đô thị của Vương quốc Phù Nam). Điều đặc biệt là công trình này có phong cách kiến trúc rất giống những đền đài của các nước vùng Nam Á, mang dấu ấn của Hindu giáo qua kiến trúc mái vòm.
Các mặt vách chung quanh công trình đều có tượng thần Ganesa mình người, đầu voi, ngồi với tư thế nghiêm trang, nửa như trầm mặc thiền định, nửa như răn đe canh giữ. Khu nhà trưng bày có hình vuông, tam cấp cửa chính ở phía mặt trời mọc, là nơi ngự trị của các thần linh theo quan niệm Ấn Độ giáo. Lan can bao bọc sân có trang trí các tượng nhỏ.
Phía bắc núi Ba Thê còn có một tảng đá có dáng hình như một cây đao vĩ đại dài 320cm, ngang 71cm, nặng cỡ 2,5 tấn. Dân gian gọi đó là Thạch Đại Đao, là bửu bối của trời đất, dành để trừng trị bọn gian ác.
Đứng trên đỉnh Ba Thê nhìn xuống đồng bằng xa xa mờ ảo trong khói lam chiều, bạn sẽ thấy tâm hồn như lắng lại, lòng lâng lâng cảm giác thoát tục, giữa bốn bề sơn thủy hữu tình.
9. Núi Cấm
Núi Cấm nằm trong cụm Thất Sơn ở miền Tây Nam Bộ, thuộc địa phận xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Đặc điểm: Tượng Phật Di Lặc lớn nhất Việt Nam; chùa Vạn Linh với ngôi tháp bề thế, linh thiêng. Núi Cấm mang vẻ đẹp hoang sơ, kỳ bí. Trên núi có chùa Phật Lớn, miếu Sơn Thần, chùa Vạn Linh, tượng Phật Di Lặc lớn nhất Việt Nam,… là điểm du lịch rất hấp dẫn. Đặc sản vùng này có nhiều nhưng nổi bật hơn cả là đường Thốt Nốt và xoài Thanh Ca.
Theo sách của các nhà phong thuỷ, cụm Thất Sơn chạy dọc theo sườn Tây An Giang, giữa miền đồng bằng màu mỡ, chính là nơi khí âm dương hội tụ mà núi Cấm là một Long huyệt. Núi Cấm có rất nhiều loại hoa quả, chim muông cộng với rừng cây, thác nước, hang động thật kỳ thú và hấp dẫn. Ngay tại chân núi có một ngôi miếu thờ Sơn Thần mà ai qua đó cũng dừng lại thắp nhang. Hai bên đường lên núi là rừng cây rậm rạp.
Vượt qua đoạn đường lên núi vất vả, đổi lại du khách được thấy một khung cảnh đẹp như tranh: dòng thác đổ từ trên cao xuống các tảng đá xếp chồng lên nhau làm bọt nước bắn tung tóe, tiếng thác đổ vang vọng trong gió núi, lúc xa lúc gần; những khối thạch nhũ lâu năm ở động Thuỷ Liêm tạo thành những hình thù làm cho người xem tha hồ tưởng tượng, những đám mây bay ngang che khuất ánh mặt trời tạo cảm giác những hình thù vừa thấy như biến mất…
Tiếp tục cuộc hành trình du khách tới chùa Phật Lớn. Ngôi chùa nằm trong không gian tĩnh mịch, chìm đắm bên những gốc bồ đề cổ thụ nhuốm màu thời gian hơn một thế kỷ.
Gần đó là bức tượng Phật Di Lặc, trắng toát cao gần 34 mét, tư thế ngồi đang mỉm cười nhìn du khách. Cách đó khoảng 100 mét là chùa Vạn Linh với ngôi bảo tháp bề thế. Du khách có dịp trèo lên đỉnh tháp chùa Vạn Linh đắm mình với phong cảnh Núi Cấm.
Không có cái dáng dấp hùng vĩ và trùng điệp như những dãy núi ở Trường Sơn – Tây Nguyên, nhưng ngoài vẻ đẹp hoang sơ, kỳ bí, Núi Cấm ở An Giang còn là một báu vật mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất phía tây nam của Việt Nam.
Theo Vietnamtourism - Hivietnam
Du lịch, GO!
Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long nhưng về diện tích chỉ đứng thứ 4 trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long sau tỉnh Kiên Giang, tỉnh Cà Mau và tỉnh Long An. Tháng 7/2013, An Giang là tỉnh đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long có 2 thành phố trực thuộc tỉnh là Long Xuyên và Châu Đốc.
An Giang có nhiều thắng cảnh đẹp có thể tạm kể ra như...
1. Bia Thoại Sơn
Bia Thoại Sơn nằm dưới chân núi Sập, trong đình Thoại Sơn thuộc thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, cách thành phố Long Xuyên khoảng 28km. Bia Thoại Sơn do Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) dựng năm 1822 và là một trong hai công trình di tích lịch sử và bia ký nổi tiếng ở Việt Nam dưới chế độ phong kiến còn lưu lại đến ngày nay.
Bia đá có chiều cao 3m, ngang 1,2m, bề dầy 0,2m. Mặt bia chạm 629 chữ mô tả công trình đào kênh Thoại Hà và nói lên tình cảm của Thoại Ngọc Hầu với triều đình, với nhân dân.
< Tượng Thoại Ngọc Hầu.
Vào đầu thế kỷ 19, vùng Thoại Sơn rất hoang vu, mịt mù cây rừng cỏ dại. Lạch nước tuy có sẵn nhưng nhỏ hẹp, bùn đọng, cỏ lấp, thuyền qua lại không nổi. Con sông Đông Xuyên (nay là Long Xuyên) chỉ kéo dài đến Ba Bần, mọi giao thông của tàu thuyền từ Long Xuyên và đồng bằng sông Cửu Long muốn sang Rạch Giá, Hà Tiên hay ngược lại đều phải đi đường biển vòng xuống Cà Mau.
Năm 1817 khi Thoại Ngọc Hầu về trấn thủ Vĩnh Thanh, sau khi khảo sát thực tế, nghiên cứu địa hình vùng tứ giác Long Xuyên, ông chủ trương đào kênh Đông Xuyên – Rạch Giá, đầu kênh tại Ba Bần (Ba Dầu hiện nay). Chủ trương đào kênh của ông được vua Gia Long chấp thuận và vào mùa xuân 1818, việc đào kênh được khởi công.
< Đền thờ Thoại Ngọc Hầu.
Kênh đào theo lạch nước cũ nên sau một tháng đã hoàn thành. Bề ngang kênh 61m, chiều dài tới Rạch Giá là trên 30km và là con kênh đào sớm nhất ở miền Nam. Nó có vị trí quan trọng cho giao thông vận tải đường sông và phát triển nông nghiệp của huyện Thoại Sơn. Khi công trình đào kênh hoàn tất, vua Gia Long rất khen ngợi ra lệnh lấy tên Thoại Ngọc Hầu đặt tên cho sông là Thoại Hà (Sông Thoại).
Trên bờ phía đông của Thoại Hà có một ngọn núi, tục gọi là núi Sập, vua liền cho đổi tên là Thoại Sơn (Núi Thoại) để tặng thưởng công lao khó nhọc của Thoại Ngọc Hầu. Để ghi dấu một kỷ niệm trọng đại trong cuộc đời mình, Thoại Ngọc Hầu soạn một bài văn khắc vào bia đá. Năm Minh Mạng thứ ba (1822), Thoại Ngọc Hầu long trọng làm lễ dựng bia tại miếu thờ Sơn thần (nay là ngôi đình thờ ông làm Thành Hoàng) bên triền núi Sập.
2. Cù Lao Giêng
< Nhà thờ Cù Lao Giêng.
Cù Lao Giêng thuộc xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cù Lao Giêng (hay Diên, Riêng, Den, Ven) mà người Khmer gọi “Koh-Teng” có một bề dày lịch sử rất tự hào, nơi đã ghi lại dấu son lịch sử của phong trào cách mạng từ những năm 1930 với lá cờ đỏ búa liềm trên cột dây thép xã Long Điền A.
Với cảnh quan thiên nhiên đầy sức quyến rũ của một vùng sông nước, cá lội tung tăng cùng vô vàn chủng loại cây trái đặc sản của miền phù sa nước ngọt, Cù Lao Giêng còn có những công trình văn hoá và mỹ thuật tiêu biểu như Chùa Bà Lê (Phước Hội Tự), một di tích lịch sử cách mạng thuộc xã Hội An, huyện Chợ Mới đã được Nhà nước công nhận di tích quốc gia.
< Bên trong nhà thờ.
Hiện nay, bên trong còn thờ những bài vị của các anh hùng liệt sĩ cách mạng dưới hình thức tôn giáo để che mắt giặc trong thời chiến tranh. Cù Lao Giêng còn là quê hương của người nữ anh hùng liệt sĩ Huỳnh Thị Hưởng – một “Võ Thị Sáu” kiên cường của An Giang. Trên đất này còn có di tích nhà thờ Cù Lao Giêng (xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới) được xây cất từ năm 1877, lớn nhất ở Việt Nam và có trước nhà thờ Ðức Bà ở Sài Gòn chừng vài tháng.
Tương truyền nơi đây xưa kia là một trong những nơi đóng binh của nhà Nguyễn. Ðặc biệt trong khu này có danh lam Thành Hoa Tự, một ngôi chùa với lối kiến trúc sinh động, trên tường được chạm nổi những hoa văn mang nhiều hình ảnh đặc trưng mô phỏng cảnh yên bình thoát tục được khắc hoạ bởi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân vùng Chợ Thủ.
< Chùa đạo Nằm.
Thành Hoa Tự còn gọi là “chùa Ðạo Nằm”, được xây dựng vào năm 1953 do sư tổ hoà thượng pháp danh Tịnh Nghiêm, quê ở làng Hoà An (Tx. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) về đây trụ trì. Ðến năm 1954 thì Ông viên tịch, hưởng thọ 51 tuổi. Hiện nay, trong Bảo Tháp cạnh chùa có đặt thi hài Ông. Là một tu sĩ phật giáo không sáng tác kinh kệ riêng, cũng không đưa ra một phương thức tu tập mới, nhưng hành trang và cuộc đời của ông hầu như đã gắn với nhiều huyền thoại khá ly kỳ từ cung cách sinh hoạt đến dáng đi, giọng nói đều biểu hiện một cốt cách phi phàm nhưng đặc biệt nhất là… nằm!
< Chùa Phước Thành.
Có lẽ ông là người chiếm kỷ lục về thời gian nằm ở nước ta. Trong suốt 9 năm khổ luyện ông đã nằm quay mặt vào vách theo tư thế của Ðức Phật Thích Ca được gọi là “cửu niên diện bích”. Có phải chăng, đây là điều kỳ lạ để cho mọi người từ các nơi đổ về hành hương chiêm bái. Vào ngày giỗ (từ 15 đến 16 tháng 2 âm lịch và các ngày rằm lớn trong năm) có lúc lên tới 10 ngàn lượt người. Cù Lao Giêng đã từng là cứ địa của Xứ Uỷ Nam Kỳ, nơi phát đi những tín hiệu và mệnh lệnh đấu tranh giành quyền sống cho nhân dân ngay từ thời thuộc Pháp.
Và cũng chính nơi đây đã sản sinh ra không ít những người con anh hùng trung dũng của quê hương An Giang. Phải chăng từ những di tích và di sản truyền thống quí báu tự ngàn xưa còn để lại cùng những cảnh quan nên thơ hữu tình ấy đã vẫy gọi khách du lịch hành hương từ mọi miền đổ về đây tham quan, thưởng ngoạn.
3. Cụm di tích núi Sam
Di tích núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, tỉnh An Giang. Đặc điểm: Núi Sam không chỉ là cảnh đẹp thiên nhiên, tại đây có nhiều di tích kiến trúc, văn hóa đã khắc sâu vào tâm linh người dân đồng bằng Nam Bộ.
Núi Sam cao 284m nằm ở vùng đồng bằng, có đường nhựa dài khoảng 5km cho xe chạy vòng quanh lên tận đỉnh núi. Núi Sam cùng các ngọn núi khác vùng Bảy Núi là những điểm nhấn tạo nên cảnh quan tự nhiên rất thơ mộng ở miền tây nam của Việt Nam, giáp với biên giới Cam-pu-chia.
< Chùa Tây An ở Núi Sam.
Núi thấp có nhiều đường mòn, nhiều ngả lên xuống, ít cây cổ thụ. Theo truyền thuyết, núi có nhiều linh hiển, nên có nhiều chùa thờ Phật đã dựng lên tại đây gần 2 thế kỷ.
Ðồng bào khắp nơi hành hương về đây cúng lễ rất đông. Có đến 200 ngôi đền, chùa, am, miếu nằm rải rác ở chân núi, sườn núi và cả trên đỉnh. Trên đỉnh núi có một pháo đài được xây dựng từ thời Pháp.
Dưới chân núi có Lăng Thoại Ngọc Hầu (Nguyễn Văn Thoại), một tướng triều Nguyễn có nhiều công đức với nhân dân địa phương trong việc tổ chức đào hai con kênh quan trọng ở An Giang: kênh Vĩnh Tế dài 90km nối sông Hậu với Hương Thành (Hà Tiên) và ra vịnh Thái Lan; kênh Chỉnh An nối sông Hậu qua sông Tiền; đắp lộ lớn Châu Ðốc – Long Xuyên. Tất cả những công trình quan trọng ấy đều hoàn tất trước khi Thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ (1858). Tại đây còn có miếu bà Chúa Xứ, chùa Tây An, vườn Tao Ngộ, đồi Bạch Vân…
4. Chùa Ông Bắc
Chùa Ông Bắc nằm trên đường Phạm Hồng Thái thuộc phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Chùa Ông Bắc còn được gọi là Quảng Đông Tỉnh Hội Quán là một di tích kiến trúc chính thống của người Việt gốc Hoa với các di vật cổ có giá trị cao.
Chùa được xây dựng cách đây trên 100 năm bởi những người Hoa từ tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) để làm nơi hội họp, sinh hoạt. Đến năm Giáp Ngọ 1887, ông Quảng Thành Lợi và Hòa Mậu Xương là hai người Hoa giàu có trong vùng, đứng ra vận động đồng hương và người dân tín ngưỡng đóng góp tiền của khởi công sửa chữa. Qua 4 năm xây dựng, đến năm Mậu Tuất 1891, chùa được hoàn thành và trở thành một công trình kiến trúc nghệ thuật đẹp và tiêu biểu của thành phố Long Xuyên.Chùa có diện tích 400m², kiến trúc theo hình chữ Quốc. Mái chùa lợp ngói đại ống tráng men xanh, trên cạnh nóc chùa chạm khắc hình bát tiên, voi, rồng, phượng, cá… cùng những bức phù điêu, hoa văn cổ mang sắc thái nghệ thuật nhà Nguyễn pha lẫn kiến trúc nghệ thuật Trung Quốc.
Khung bao cửa chính ra vào chùa được xây bằng những tảng đá xanh chạm khắc tinh xảo, tường gạch trát vôi, nền lát gạch hoa. Nội thất chùa có cấu trúc phong thủy, thoáng mát, trên đỉnh cao tứ giác có nhiều bức chạm trổ đẹp, hình tam cấp tượng trưng cho ba cõi: Thiên, Địa, Nhân.Trong chùa có 3 khánh, một tủ thờ sơn son thiếp vàng, một chuông đồng, đỉnh đồng… Bên hông chùa còn có ba bia đá ghi bằng chữ Hán kể lại lịch sử xây dựng chùa. Người được thờ tại chính điện là Bắc Đế, bên trái thờ Thiên Hậu, bên phải thờ Quan Công. Ngoài ra Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát, Ngọc Hoàng Thượng Đế … cũng được thờ tại đây. Tất cả tập hợp thành một bản sắc văn hóa của người Hoa đã hòa nhập lâu đời vào nền văn hóa Việt Nam. Chùa đã được công nhận di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia vào tháng 6/1987.
5. Chùa Giồng Thành (Long Hương Tự)
Chùa Giồng Thành thuộc xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, cách trung tâm tỉnh khoảng 75km về hướng Châu Đốc, cách thị xã Tân Châu 3km. Chùa Giồng Thành là một trong những di tích ở An Giang được Nhà nước công nhận, xếp hạng quốc gia vào năm 1986.
Chùa được hòa thượng Trần Minh Lý xây dựng lần đầu vào năm 1875 bằng vật liệu tre lá đơn sơ, đến nay trải qua 4 lần tu sửa lớn, lần sửa chữa gần nhất là vào năm 1970 nhưng vẫn tọa lạc trên nền cũ thuộc xã Long Sơn anh hùng (Phú Tân – An Giang). Nhìn từ bên ngoài, chùa mang dáng dấp kiến trúc Ấn Độ với mái tháp có hai tầng hình phễu, trang trí nhiều họa tiết hoa văn trang nhã nhưng về đại thể, chùa Giồng Thành là khối kiến trúc hài hòa theo phong cách Á – Âu với lối xây dựng theo hình chữ “song hỷ”, gồm 3 gian, mái lợp bằng ngói móc, trên cột chánh điện có vẽ hình rồng.Về tên gọi chùa Giồng Thành, theo một số tài liệu cho biết là xuất phát từ chỗ chùa được xây trên nền đất của hào thành triều Nguyễn. Chùa Giồng Thành được nhiều người biết đến như địa chỉ đỏ của phong trào yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Tại đây vào những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ 20, tổ chức Kèo Vàng, Kèo Xanh của Phan Xích Long đã nhóm họp để thu hút người yêu nước chống thực dân Pháp, mở đầu cho hàng loạt hoạt động yêu nước sau này mà đỉnh cao là việc nuôi dưỡng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – trong những ngày đi truyền bá chủ nghĩa yêu nước chân chính cho đồng bào (1928 – 1929).
Trong những năm tháng chống Mỹ hào hùng, chùa Giồng Thành tiếp tục là cơ sở của Tỉnh ủy Châu Đốc, Huyện ủy Tân Châu và là điểm giao liên của Khu 8, Trung ương cục miền Nam. Đặc biệt nơi đây từng là chỗ trú ngụ an toàn cho nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước trong những năm tháng kháng chiến như: Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt….Trước kia, hàng năm vào các ngày rằm tháng Giêng, tháng Bảy, tháng Mười (âm lịch), khách thập phương đến viếng và lễ chùa rất đông. Từ sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước đến nay, ngày 19/5 hàng năm được xem như ngày hội của nhà chùa với nhiều hoạt động mang tính chất văn hóa truyền thống đặc sắc để kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
6. Đồi Bạch Vân
Bạch Vân là một ngọn đồi thuộc núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang Đặc điểm: Đồi cao gần 100m, có hình dáng như cái đầu của con Sam hướng về phía bắc. Trước kia đồi có tên là núi Nhỏ nhưng vào khoảng năm 1942, có một cư sĩ lên đồi cất am tu thân, đặt tên là Bạch Vân Am nên từ đó đồi có tên là Bạch Vân.
Từ chân núi Sam lên đồi Bạch Vân có hai đường chính. Một là đi theo ghềnh đá sau lăng Thoại Ngọc Hầu, đến lưng chừng núi thì rẽ qua cầu Hoà Bình đến Bạch Vân, hoặc đi vòng dưới chân núi theo hướng tây đến khu nghĩa địa sẽ có bậc thang đi lên đồi Bạch Vân khá dễ dàng.Đến Bạch Vân du khách sẽ thấy nhiều tảng đá lớn, cheo leo, chồng lên nhau tạo thành mái che, hang động thiên nhiên đẹp mắt, thú vị. Trên đồi còn có nhiều chùa chiền, am cốc. Với độ cao vừa phải và nhiều địa điểm bằng phẳng tựa vào các khe đá lồng lộng gió nên hằng năm, vào mùa xuân, dân ở các vùng lân cận thường lên đây hóng gió, tổ chức ăn uống, vui chơi.
7. Hồ Nguyễn Du
Hồ Nguyễn Du tọa lạc tại phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, An Giang. Đây được xem là một khu hồ, công viên đẹp nhất ở miền Tây với khung cảnh nên thơ, lãng mạn; với làn nước trong, yên ả và những rặng cây soi bóng xuống mặt hồ.
Hồ Nguyễn Du được hình thành từ một nhánh của con sông Hậu. Qua thời gian, khi phù sa bồi đắp, nhánh này tách rời khỏi sông và tạo thành hồ. Hồ Nguyễn Du có diện tích mặt nước khoảng 1.750 m2. Tại đây có một bến đò nhỏ qua Cồn Phó Ba một địa điểm có thể khai thác du lịch vườn trong tương lai.Hồ nằm giữa hai con đường Nguyễn Du và Lê Lợi - con đường với hai hàng cây xanh rợp bóng, con đường mát nhất của thành phố Long Xuyên. Xung quanh hồ Nguyễn Du được thiết kế như một công viên với một cụm thể thao nhỏ bên cạnh đó còn có những trò chơi trẻ em đã làm cho khu vực trở nên trẻ trung, tươi tắn.
8. Núi Ba Thê
Đây là một ngọn núi nằm giữa vùng tứ giác Long Xuyên, thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Núi Ba Thê có tên gốc là Hoa Thê Sơn. Vào triều Minh Mạng, do kỵ húy tên Hoàng hậu là Hồ Thị Hoa nên Hoa Thê Sơn đổi tên thành núi Ba Thê.
Đến núi Ba Thê, du khách sẽ được thưởng ngoạn một thắng cảnh tuyệt đẹp mà tạo hóa đã ban cho. Đứng trên đỉnh núi phóng tầm nhìn bao quát cả khu vực sẽ thấy quanh núi là những cánh đồng trải rộng, xa xa về hướng tây là vùng biển Rạch Giá, chênh chếch hướng tây nam là dãy Thất Sơn hùng vĩ án ngữ phía chân trời. Có một con đường nhỏ lát bê tông ngoằn ngoèo, uốn lượn, chạy quanh co lên đỉnh núi, chỉ dài chừng 2km. Hai bên đường là rừng cây thâm u, vách đá và vực sâu thăm thẳm.
Trên đỉnh núi có ngôi chùa cổ tên Sơn Tiên Tự được dựng vào năm 1933. Trước sân chùa có tượng Phật Quan Thế Âm bồ tát cao chừng 8m, đứng trên tòa sen, khoác áo choàng đỏ, uy nghi, tự tại, sừng sững trên đỉnh núi như nhìn bao quát khắp thế gian. Ở trên đỉnh núi mây bay là đà mang hơi sương mát lạnh, cỏ cây xanh tốt ngút ngàn. Có nhiều tiếng chim hót líu lo, ríu rít khắp nơi. Thỉnh thoảng tiếng chuông chùa ngân vọng thênh thang, bàng bạc khắp núi rừng làm bâng khuâng, xao xuyến lòng người.
Cạnh ngôi tháp xá lợi cổ bên chùa có bia kỷ niệm ghi lại chiến công oanh liệt của quân giải phóng Ba Thê – Thoại Sơn, đã tiêu diệt gọn cứ điểm của địch trên đỉnh Ba Thê vào ngày 6/5/1968. Có một di tích rất lạ lùng gợi trí tò mò của du khách. Đó là hòn đá hoa cương cao chừng 3m, to cỡ gốc cổ thụ bốn năm người ôm, nằm bên hông chánh điện của Sơn Tiên Tự. Trên mặt viên đá khổng lồ ấy có dấu bàn chân người to hơn bình thường. Người ta cho đó là “bàn chân tiên”.Các sư trên núi kể lại: xưa kia lúc mới tạo sơn, đá núi còn mềm như đất sét, có một vị tiên đã ấn bàn chân mình lên đá để làm dấu… Đi xuống phía triền núi cách chùa Sơn Tiên chừng 100m, du khách sẽ thấy nhà trưng bày những cổ vật, hiện vật có liên quan đến lịch sử cũng như văn hóa của Ba Thê – Óc Eo (đô thị của Vương quốc Phù Nam). Điều đặc biệt là công trình này có phong cách kiến trúc rất giống những đền đài của các nước vùng Nam Á, mang dấu ấn của Hindu giáo qua kiến trúc mái vòm.
Các mặt vách chung quanh công trình đều có tượng thần Ganesa mình người, đầu voi, ngồi với tư thế nghiêm trang, nửa như trầm mặc thiền định, nửa như răn đe canh giữ. Khu nhà trưng bày có hình vuông, tam cấp cửa chính ở phía mặt trời mọc, là nơi ngự trị của các thần linh theo quan niệm Ấn Độ giáo. Lan can bao bọc sân có trang trí các tượng nhỏ.
Phía bắc núi Ba Thê còn có một tảng đá có dáng hình như một cây đao vĩ đại dài 320cm, ngang 71cm, nặng cỡ 2,5 tấn. Dân gian gọi đó là Thạch Đại Đao, là bửu bối của trời đất, dành để trừng trị bọn gian ác.
Đứng trên đỉnh Ba Thê nhìn xuống đồng bằng xa xa mờ ảo trong khói lam chiều, bạn sẽ thấy tâm hồn như lắng lại, lòng lâng lâng cảm giác thoát tục, giữa bốn bề sơn thủy hữu tình.
9. Núi Cấm
Núi Cấm nằm trong cụm Thất Sơn ở miền Tây Nam Bộ, thuộc địa phận xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Đặc điểm: Tượng Phật Di Lặc lớn nhất Việt Nam; chùa Vạn Linh với ngôi tháp bề thế, linh thiêng. Núi Cấm mang vẻ đẹp hoang sơ, kỳ bí. Trên núi có chùa Phật Lớn, miếu Sơn Thần, chùa Vạn Linh, tượng Phật Di Lặc lớn nhất Việt Nam,… là điểm du lịch rất hấp dẫn. Đặc sản vùng này có nhiều nhưng nổi bật hơn cả là đường Thốt Nốt và xoài Thanh Ca.
Theo sách của các nhà phong thuỷ, cụm Thất Sơn chạy dọc theo sườn Tây An Giang, giữa miền đồng bằng màu mỡ, chính là nơi khí âm dương hội tụ mà núi Cấm là một Long huyệt. Núi Cấm có rất nhiều loại hoa quả, chim muông cộng với rừng cây, thác nước, hang động thật kỳ thú và hấp dẫn. Ngay tại chân núi có một ngôi miếu thờ Sơn Thần mà ai qua đó cũng dừng lại thắp nhang. Hai bên đường lên núi là rừng cây rậm rạp.
Vượt qua đoạn đường lên núi vất vả, đổi lại du khách được thấy một khung cảnh đẹp như tranh: dòng thác đổ từ trên cao xuống các tảng đá xếp chồng lên nhau làm bọt nước bắn tung tóe, tiếng thác đổ vang vọng trong gió núi, lúc xa lúc gần; những khối thạch nhũ lâu năm ở động Thuỷ Liêm tạo thành những hình thù làm cho người xem tha hồ tưởng tượng, những đám mây bay ngang che khuất ánh mặt trời tạo cảm giác những hình thù vừa thấy như biến mất…
Tiếp tục cuộc hành trình du khách tới chùa Phật Lớn. Ngôi chùa nằm trong không gian tĩnh mịch, chìm đắm bên những gốc bồ đề cổ thụ nhuốm màu thời gian hơn một thế kỷ.
Gần đó là bức tượng Phật Di Lặc, trắng toát cao gần 34 mét, tư thế ngồi đang mỉm cười nhìn du khách. Cách đó khoảng 100 mét là chùa Vạn Linh với ngôi bảo tháp bề thế. Du khách có dịp trèo lên đỉnh tháp chùa Vạn Linh đắm mình với phong cảnh Núi Cấm.
Không có cái dáng dấp hùng vĩ và trùng điệp như những dãy núi ở Trường Sơn – Tây Nguyên, nhưng ngoài vẻ đẹp hoang sơ, kỳ bí, Núi Cấm ở An Giang còn là một báu vật mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất phía tây nam của Việt Nam.
Theo Vietnamtourism - Hivietnam
Du lịch, GO!
Popular Posts
-
H à Giang có rất nhiều chợ: chợ Phố Cáo, chợ Phó Bảng, chợ Sủng Là, chợ Lũng Phìn, chợ Ma Lé, chợ Đồng Văn, chợ Mèo Vạc, chợ Sà Phìn… Đa phầ...
-
C hùa Vạn Đức tọa lạc số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh). Chùa do HT.Thích Trí Tịnh, đời thứ 41 dòng t...
-
(Metinfo) - A i cũng biết khổ qua nguyên trái hầm thịt nạc bằm hoặc cá thác lác quết nước muối, khổ qua xắt lát xào thịt bò , khổ qua xắt lá...
-
(QN online) - C ùng với za’ră (thịt thọc ống), aví cuốt (bánh sừng trâu), ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc n...
-
G iữa nhịp sống hối hả và ồn ào của TP. Hồ Chí Minh, nếu bạn bước chân vào nơi rợp bóng cây, lộng gió và nghe tiếng chim hót sẽ là một niềm ...
-
(iHay) - T hị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên nằm giữa 2 thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và Tuy Hòa (Phú Yên). Có lẽ do nằm trong “vùng trũng” g...
-
(CTTĐTTTH) - A n Định Cung không chỉ nổi tiếng là một công trình đẹp của cung đình Huế mà nó còn là nơi chứng kiến nhiều nỗi thăng trầm của ...
-
(Daidoanket) - N gược dòng Long Đại, con thuyền đưa chúng tôi đi ngang qua các thôn, bản với những tên gọi dân gian như Ổ Gà, Lùi, Cập, Chuố...
-
A n Giang là tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam với một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên. Đây là tỉnh có dân số đông n...
-
K hu tưởng niệm các vua Hùng là một công trình thuộc khu Cổ Đại của dự án Công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc. Khu tưởng niệm tọa lạc trên ...










.jpg)



























